Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5 (Môn Ngữ văn Lớp 6)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 6, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi: … Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đang sống vô cảm, không quan tâm tới những chuyện diễn ra xung quanh mình.
Đề thi
Phần I: ĐỌC – HIỂU (3 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
… Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đang sống vô cảm, không quan tâm tới những chuyện diễn ra xung quanh mình. Họ không hề mảy may trước những cảnh tượng bất bình, đau khổ, cũng như không biết chiêm ngưỡng, tán thưởng những điều mang lại cho mình những cảm xúc tích cực.
(…) Gia đình, nhà trường và xã hội có một vai trò hết sức quan trọng. Gia đình chính là môi trường đầu đời hình thành nên những cảm xúc yếu thương, lòng nhân ái, giáo dục và trang bị cho trẻ những chuẩn mực đạo đức, giúp họ học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ. Khi người lớn sống có trách nhiệm, quan tâm tới nhau, có những hành vi, ứng xử đẹp, mang tính nhân văn thì đó sẽ là tấm gương để giới trẻ noi theo. Cùng với gia đình, nhà trường nên trang bị cho thanh, thiếu niên những kỹ năng sống thiết thực, biết giúp đỡ mọi người, khơi dậy ở họ lòng nhân ái và tinh thần đấu tranh trước cái xấu và cái ác. Xã hội phải đề cao và tôn vinh vì cộng đồng; tôn vinh và phát huy các giá trị truyền thống và đạo lý của dân tộc: “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”. Có như vậy, lối sống vô cảm trong xã hội, trong giới trẻ mới bị đẩy lùi, xã hội ta mới phát triển trong sự hài hòa và nhân văn.
(Theo http://tuyengiao.bacgiang.gov.vn/, ngày 27/06/2018)
Câu 1. Mở đầu đoạn trích, người viết nêu lên thực trạng gì?
A. Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đang sống vô cảm
B. Hiện nay các bạn trẻ rất thông minh, năng động
C. Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ sẵn sàng xả thân vì cộng đồng
D. Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ có hành vi ứng xử đẹp, giàu nhân văn
Câu 2. Em hiểu như thế nào về nghĩa của từ “vô cảm”?
A. Vô cảm là tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, để ý tới, không hề có chút tình cảm gì
B. Vô cảm là không có cảm xúc, không có tình cảm (trước những tình huống đáng ra phải có)
C. Vô cảm là rung động mạnh mẽ trong lòng và trong thời gian tương đối ngắn, nhiều khi làm tê liệt nhận thức
D. Vô cảm là phản ứng tâm lí theo hướng tích cực với sự kích thích của hiện thực khách quan.
Câu 3. Để đẩy lùi lối sống vô cảm trong các bạn trẻ, theo người viết, đó là trách nhiệm của ai?
A. Trách nhiệm của gia đình
B. Trách nhiệm của nhà trường
C. Trách nhiệm của xã hội
D. Trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội
Câu 4. Khi lối sống vô cảm trong xã hội, trong giới trẻ được đẩy lùi, xã hội sẽ như thế nào?
A. Kinh tế phát triển vững mạnh
B. Đất nước phát triển trong hòa bình, hữu nghị
C. Xã hội phát triển trong sự hài hòa và nhân văn
D. Môi trường học tập lành mạnh, trong sáng
Câu 5. Theo tác giả, xã hội cần phải đề cao, trân trọng những con người như thế nào?
Câu 6. Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu sau: Gia đình, nhà trường và xã hội có một vai trò hết sức quan trọng.
Câu 7. Theo em, học sinh cần có trách nhiệm như thế nào để đẩy lùi lối sống vô cảm trong giới trẻ?
Phần II: TẬP LÀM VĂN (7 điểm)
Câu 1. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) về vai trò của nhà trường đối với mỗi người.
Câu 2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp của tình mẫu tử trong bài thơ “Mây và sóng” (R. Ta-go)
Đáp án
Phần I:
Câu 1 (0.25 điểm):
Mở đầu đoạn trích, người viết nêu lên thực trạng gì? A. Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đang sống vô cảm B. Hiện nay các bạn trẻ rất thông minh, năng động C. Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ sẵn sàng xả thân vì cộng đồng D. Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ có hành vi ứng xử đẹp, giàu nhân văn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Mở đầu đoạn trích, người viết nêu lên thực trạng hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đang sống vô cảm
=> Đáp án: A
Câu 2 (0.25 điểm):
Em hiểu như thế nào về nghĩa của từ “vô cảm”? A. Vô cảm là tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, để ý tới, không hề có chút tình cảm gì B. Vô cảm là không có cảm xúc, không có tình cảm (trước những tình huống đáng ra phải có) C. Vô cảm là rung động mạnh mẽ trong lòng và trong thời gian tương đối ngắn, nhiều khi làm tê liệt nhận thức D. Vô cảm là phản ứng tâm lí theo hướng tích cực với sự kích thích của hiện thực khách quan. |
Phương pháp giải:
Xác định nghĩa của từ “vô cảm”
Lời giải chi tiết:
Vô cảm là không có cảm xúc, không có tình cảm (trước những tình huống đáng ra phải có)
=> Đáp án: B
Câu 3 (0.25 điểm):
Để đẩy lùi lối sống vô cảm trong các bạn trẻ, theo người viết, đó là trách nhiệm của ai? A. Trách nhiệm của gia đình B. Trách nhiệm của nhà trường C. Trách nhiệm của xã hội D. Trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Để đẩy lùi lối sống vô cảm trong các bạn trẻ, theo người viết, đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội
=> Đáp án: D
Câu 4 (0.25 điểm):
Khi lối sống vô cảm trong xã hội, trong giới trẻ được đẩy lùi, xã hội sẽ như thế nào? A. Kinh tế phát triển vững mạnh B. Đất nước phát triển trong hòa bình, hữu nghị C. Xã hội phát triển trong sự hài hòa và nhân văn D. Môi trường học tập lành mạnh, trong sáng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Khi lối sống vô cảm trong xã hội, trong giới trẻ được đẩy lùi, xã hội sẽ phát triển trong sự hài hòa và nhân văn
=> Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm):
Theo tác giả, xã hội cần phải đề cao, trân trọng những con người như thế nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Xã hội phải đề cao và tôn vinh những tấm gương sống đẹp, sống có trách nhiệm và nghĩa tình, sẵn sàng xả thân vì cộng đồng.
Câu 6 (0.5 điểm):
Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu sau: Gia đình, nhà trường và xã hội có một vai trò hết sức quan trọng. |
Phương pháp giải:
Đọc và xác định
Lời giải chi tiết:
Gia đình, nhà trường và xã hội / có một vai trò hết sức quan trọng.
CN VN
Câu 7 (1.0 điểm):
Theo em, học sinh cần có trách nhiệm như thế nào để đẩy lùi lối sống vô cảm trong giới trẻ? |
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em, nêu được ít nhất 2 biện pháp/ việc làm
Lời giải chi tiết:
Trách nhiệm của học sinh:
- Chăm chỉ học tập, sống có trách nhiệm và nghĩa tình, sẵn sàng xả thân vì cộng đồng
- Tôn trọng, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống và đạo lý tốt đẹp của dân tộc
- Gần gũi, quan tâm, yêu thương và chia sẻ với những người ở xung quanh…
Phần II (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm):
Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) về vai trò của nhà trường đối với mỗi người. |
Phương pháp giải:
Nêu quan điểm của em
Lời giải chi tiết:
- Giải thích: Nhà trường là nơi dạy dỗ, truyền tải những tri thức về mọi mặt trong cuộc sống cho chúng ta thông qua sự giáo dục của thầy cô giáo.
- Bàn luận:
+ Nhà trường luôn mang lại cho chúng ta những điều tuyệt vời nhất. Những tri thức, phẩm chất đạo đức tốt. Là nơi giúp hình thành nhân cách của con người.
+ Nhà trường là một thế giới của những điều mới lạ, thế giới của tình bạn, tình thầy trò, tình yêu thương. Là nơi của những tấm lòng nhân hậu, nơi chắp cánh cho những ước mơ của những thế hệ trẻ.
+ Nhà trường cho chúng ta một hành trang vững chắc để có thể bước ra ngoài xã hội, khám phá cuộc sống. Nhà trường không thể thiếu được trong cuộc sống, trong một đất nước, trong việc phát triển của quốc gia.
- Mở rộng: Luôn trân trọng những giá trị tốt đẹp của nhà trường; lên án, phê phán các hành vi làm phương hại đến giá trị, các mối quan hệ tốt đẹp trong nhà trường.
- Bài học: Là những học sinh, chúng ta hãy luôn tôn trọng, biết ơn, yêu thương những ngôi trường mà chúng ta học. Bởi đó là nơi, đưa chúng ta đến với hạnh phúc của cuộc đời. Nơi chắp cánh cho những ước mơ của chúng ta.
Câu 2 (5 điểm):
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của tình mẫu tử trong bài thơ “Mây và sóng” (R. Ta-go) |
Phương pháp giải:
1. Mở bài: giới thiệu về tác giả và nêu vấn đề cần cảm nhận
2. Thân bài: Cảm nhận về tình mẫu tử trong bài thơ
- Dẫn dắt vấn đề
- Tình mẫu tử trong đoạn thơ thứ nhất
- Tình mẫu tử trong đoạn thơ thứ hai
- Khái quát vấn đề
3. Kết bài: Khẳng định nội dung của bài thơ là ca ngợi tình mẫu tử
Lời giải chi tiết:
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài: giới thiệu về tác giả và nêu vấn đề cần cảm nhận
- Ra-bin-đra-nát Ta-go (1861-1941) là nhà thơ hiện đại lớn nhất của văn học Ấn Độ gia đoạn dầu thế kì XX. Mây và sóng (xuất bản năm 1990), sau đó Ta-go tự dịch ra tiếng Anh và in trong tập Trăng non, xuất bản năm 1915.
- Với hình thức đối thoại lồng trong lời kể của em bé, qua những hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa tượng trưng, bài thơ Mây và sóng của Ta-go đã ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt.
2. Thân bài: Cảm nhận về tình mẫu tử trong bài thơ
- Dẫn dắt vấn đề: Bài thơ là lời kể hồn nhiên, chân thành của em bé với mẹ về những cuộc đối thoại tưởng tượng giữa em và các nhân vật sống trên mây và trong sóng. Mặc dù người mẹ không xuất hiện, không phát ngôn nhưng đối tượng để bày tỏ tình cảm của em bé chính là Mẹ.
- Tình mẫu tử trong đoạn thơ thứ nhất:
+ Bài thơ mở đầu với một tiếng gọi “Mẹ ơi” của em bé và sau đó là lời kể lại cuộc đối thoại giữa em và những người sống trên mây và sóng. Em bé được mây và sóng rủ rê, mời gọi bằng những đề nghị vô cùng hấp dẫn “Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc” và “Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nào”.
Mẹ ơi, trên mây có người gọn con:
“Chúng ta chơi đùa từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà,
…..
Và mái nhà sẽ là bầu trời xanh thẳm.
+ Trước lời mời gọi của những người sống trên mây, em bé hỏi làm cách nào để em có thể đến chơi với họ. Họ nói em đến bên bờ Trái Đất họ sẽ đưa em lên. Những tưởng em bé đồng ý nhưng không, em nghĩ đến mẹ mình.
+ Em nói em phải ở nhà với mẹ, em không thể bỏ mẹ em ở nhà một mình được. Học cười rồi bay đi, em liền nghĩ ra một trò chơi thích thú hơn. Em sẽ là mây còn mẹ sẽ là trăng còn bầu trời kia là ngôi nhà của hai mẹ con. Nhà của em là vũ trụ bao la rộng lớn.
- Tình mẫu tử trong đoạn thơ thứ hai:
+ Từ chối lời mời thứ nhất thì những người ở trong nước cũng đến mời gọi em bé đến chơi với họ:
Trong sóng có người gọi con:
“Bọn tớ ca hát từ sáng sớm đến lúc hoàng hôn
….
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào”.
+ Những người trong sóng ngày đêm hát cả ngày ngao du đây đó. Họ mời em bé đến chơi, em cũng hỏi làm thế nào có thể đến được với họ. Họ trả lời em hãy đến bên bờ biển nhắm mắt lại là họ sẽ đưa em đi. Nhưng nghĩ đến mẹ em lại quyết định ở với mẹ. Họ chỉ cười rồi bỏ đi, em bé lăn mãi vào lòng mẹ vỗ vào gối mẹ cười giòn tàn
+ Mơ ước được đi xa, nhưng rồi em bé lại băn khoăn, lưỡng lự. Em đã không thể đi du ngoạn cùng mây (bay cao) nên em cũng không thể đi chơi với sóng (đi xa). Với em chỉ có mẹ hiền yêu thương, nguồn vui ấm áp cao cả, thiêng liêng mà tạo hóa đã dành cho phần hơn: tình mẫu tử. Em mơ ước đến với mọi chân trời góc biển, nhưng em không nỡ để mẹ nhớ, mẹ buồn. Trong hiện tại, em không thể nào “rời mẹ” dù chỉ trong một khoảnh khắc.
- Khái quát vấn đề:
+ Trong cả hai lần, khi những người bạn đến rủ rê, chú bé đều hỏi lại: “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”. Như vậy, khi nghe những lời mời gọi, lần nào chú bé cũng tỏ ra băn khoăn. Mặc dù vậy, tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng. Chỉ cần nghĩ đến việc mẹ đang đợi ở nhà, mẹ không muốn chú đi chơi, chú bé đã nhất định từ chối những lời rủ rê dù những trò chơi ấy hấp dẫn đến đâu chăng nữa.
+ Trước những lời mời gọi ấy cậu bé đã nghĩ đến mẹ và dứt khoát từ chối. Để quên đi những lời mời gọi ấy cậu bé đã nghĩ ra những trò chơi chỉ có mình và mẹ. Vậy là con có thể tận hưởng niềm mê say vũ trụ khoáng đạt, bao la, kì thú ở trong chính tình mẫu tử quấn quýt, thân thương. Và nếu như nhứng những người sống trên mây mê mải chẳng biết đâu là lúc dừng, những người sống trong sóng phiêu diêu không biết nơi nao là bến bờ thì con, trong niềm hân hoan của trò chơi tưởng tượng vẫn có mái nhà xanh thẳm để chở che, vẫn có bến bờ kì lạ để neo đậu, có lòng mẹ là chốn vĩnh hằng.
3. Kết bài: Khẳng định nội dung của bài thơ là ca ngợi tình mẫu tử
- Tình mẹ con trong câu thơ thật sâu đậm, đây là vẻ đẹp vĩnh hằng của tình mẫu tử. Dù thế gian có như thế nào chăng nữa nhưng tình mẹ con vẫn mãi mãi muôn đời, vẫn tồn tại theo thời gian, vẫn ẩn hiện trong không gian rộng lớn.
- Với hình thức đối thoại và cách sử dụng, những hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa tượng trưng, bài thơ Mây và sóng của Ta-go đã ngợi ca tình mẹ con thắm thiết, thiêng liêng và bất diệt. Nó là điểm tựa để con hướng tới tương lai tươi sáng, hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc đời
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Bài học Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 6, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 6, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi học kì 2 Văn 6 Chân trời sáng tạo - Đề số 5 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 6 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.