Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo (Môn Ngữ văn Lớp 7)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 7, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Đọc hai văn bản Thỏ và rùa, Chuyện bó đũa và trả lời các câu hỏi phía dưới: a. Nêu các đặc điểm chính của truyện ngụ ngôn được thể hiện trong văn bản trên.
Câu 1
Đọc hai văn bản Thỏ và rùa, Chuyện bó đũa và trả lời các câu hỏi phía dưới:
a. Nêu các đặc điểm chính của truyện ngụ ngôn được thể hiện trong văn bản trên.
b. Sau khi đọc truyện Thỏ và rùa, một số bạn cho rằng, việc rùa thắng thỏ là khó xảy ra trong thực tế (nếêu không phải vậy thì đã chẳng có câu: “Chậm như rùa!”). Các bạn khác lại cho rằng việc rùa thắng thỏ là xứng đáng và rất thuyết phục. Em đồng tình với ý kiến nào? Vì sao?
e. Một số bạn băn khoăn không dám chắc Chuyện bó đũa là truyện ngụ ngôn hay là truyện cổ tích. Nếu được các bạn ấy hỏi ý kiến trong việc xác định thể loại, em sẽ trả lời các bạn thế nào?
d. Theo em, cách kết thúc của hai văn bản Chuyện bó đĩa và Hai người bạn đồng hành và con gấu có điểm gì giống nhau? Điểm giống nhau ấy giúp em rút ra lưu ý gì khi đọc các truyện ngụ ngôn có cách kết thúc tương tự?
đ. Dựa vào các thông tin (tình huống, tác dụng, bài học) trong bảng đưới đây đối với truyện Thỏ và rùa, hãy hoàn tất các thông tin đối với truyện Chuyện bó đũa:
Nội dung kể về câu chuyện Thỏ và Rùa, trong đó Thỏ bị Rùa chê chậm chạp nên đã thách đấu chạy đua.
Cuộc đua diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều con vật. Thỏ tự tin vào tốc độ của mình, xem thường Rùa nên đã thua cuộc. Rùa kiên trì, chăm chỉ nên đã chiến thắng.
Câu chuyện thể hiện sự kiêu ngạo của Thỏ và sự cần mẫn, tự tin của Rùa.
Câu chuyện muốn truyền tải bài học về sự thành công.
Bài học: Sự chăm chỉ, cần mẫn và tự tin sẽ giúp đạt được chiến thắng. Chậm mà chắc, biết sức mình quan trọng hơn nhanh chóng nhưng kiêu ngạo.
e. Dựa vào bảng dưới đây, tóm tắt tình huống truyện, chuỗi sự kiện được kể (cốt truyện), bài học ứng xử trong truyện Chuyện bó đũa:
Nội dung kể về câu chuyện Thỏ và Rùa, trong đó Thỏ bị Rùa chê chậm chạp nên đã thách đấu chạy đua.
Cuộc đua diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều con vật. Thỏ tự tin vào tốc độ của mình, xem thường Rùa nên đã thua cuộc. Rùa kiên trì, chăm chỉ nên đã chiến thắng.
Câu chuyện thể hiện sự kiêu ngạo của Thỏ và sự cần mẫn, tự tin của Rùa.
Câu chuyện muốn truyền tải bài học về sự thành công.
Bài học: Sự chăm chỉ, cần mẫn và tự tin sẽ giúp đạt được chiến thắng. Chậm mà chắc, biết sức mình quan trọng hơn nhanh chóng nhưng kiêu ngạo.
g. Có bạn cho rằng: bài học vẫn không có gì thay đổi, nếu thay hai nhân vật thỏ và rùa trong truyện bằng hai nhân vật đều là thỏ hoặc hai nhân vật đều là ruầ chạy thi với nhau; và vì một lí do nào đó, con vật tưởng là yếu hơn, chậm hơn đã giành chiến thắng. Em có đồng ý như vậy không? Vì sao?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ lại 2 văn bản mẫu và phần tri thức Ngữ Văn bài 2 về truyện ngụ ngôn trong SGK Ngữ Văn 7 tập 1 trang 32 để trả lời câu hỏi liên quan
Lời giải chi tiết:
a. Cả hai câu chuyện Thỏ và Rùa, Chuyện bó đũa đều là các câu chuyện ngụ ngôn vì:
+ Đề tài: là những vấn đề đạo đức hay cách thức ứng xử trong cuộc sống.
+ Nhân vật: con vật và con người. Người đọc, người nghe có thể rút ra được bài học sâu sắc từ suy nghĩ, hành động, lời nói của nhân vật trong truyện.
+ Sự kiện: thường xoay quanh một sự kiện chính.
+ Cốt truyện: xoay quanh một sự kiện (hành vi, ứng xử, quan niệm…) nhằm đưa ra bài học hay lời khuyên nào đó.
b.
+ Việc đồng nhất nhân vật thỏ, rùa trong truyện ngụ ngôn (thường được hư cấu, phóng đại,...) với hình ảnh thỏ, rùa ngoài đời thực là sai lầm (ý kiến thứ nhất).
+ Việc cho rằng rùa thắng thỏ là “xứng đáng và rất thuyết phục” nhưng lại không nói rõ “trong truyện ngụ ngôn Thỏ và rửa” hay trong đời thực là không chặt chẽ; không đưa ra lí lẽ, bằng chứng nên chưa thuyết phục (ý kiến thứ hai).
- Kết luận của em có thể đưa ra theo hướng: Đồng tình với ý kiến thứ hai nhưng đưa thêm lí lẽ, bằng chứng và diễn đạt sao cho chặt chẽ hơn.
c.
Chuyện bó đũa là truyện ngụ ngôn, không phải truyện cổ tích. Vì câu chuyện nêu lên tình huống: Người cha đưa cho các con cả bó đũa yêu cầu bẻ làm đôi, không ai có thể bẻ gãy; sau lại đưa cho các con từng chiếc đũa riêng lẻ, họ bẻ gãy dễ dàng. Từ đó khuyên các con chỉ có đoàn kết mới tránh được mối nguy bị tiêu diệt.
d.
- Em cần đọc lại hai truyện, chú ý phần kết thúc:
+ Cuối truyện Hai người bạn đồng hành và con gấu có cuộc đối thoại giữa hai người bạn và kết thúc truyện là câu trả lời bất ngờ của người bạn suýt bị gấu vồ chết trong gang tấc: “... người trên cây trèo xuống gặp bạn, cười và nói rằng: “Ông Gấu thì thầm với cậu điều gì đó?” “Ông ấy bảo tớ rằng”, người kia nói, “không nên tin vào những kẻ bỏ mặc bạn bè trong cơn hoạn nạn.”
+ Cuối truyện Chuyện bó đũa là lời khuyên dạy của người cha đối với những người con: “- Các con yên dấu! Bao giờ các con còn đoàn kết như bó đũa này thì không kẻ thù nào làm hại được các con. Nhưng nếu các con cứ chia rẽ và cãi vã, thì các con sẽ sớm bị tiêu diệt.”
- Kết luận mà em cần nêu lên là:
+ Hai truyện giống nhau ở chỗ bài học của truyện được nêu lên bằng một câu nói của nhân vật ở cuối truyện.
+ Điều này cho thấy: một trong những cách nêu bài học ở truyện ngụ ngôn là sử dụng một lời thoại của nhân vật ở phần kết thúc truyện. Vậy khi đọc một số truyện ngụ ngôn có cấu trúc tương tự, người đọc có thể dựa vào lời thoại của nhân vật để rút ra bài học mà tác giả gửi gắm.
đ.
- Em cần đọc kĩ ví dụ (cột bên trái) về cách tóm tắt tình huống, tác dụng, bài học trong truyện Thỏ và rùa để thực hiện yêu cầu của đề bài đối với truyện Chuyện bó đũa.
- Tình huống, tác dụng, bài học trong Chuyện bó đũa có thể tóm tắt trong sự đối chiếu với các yếu tố này trong truyện Thỏ và rùa qua bảng sau:
Nội dung kể về câu chuyện Thỏ và Rùa, trong đó Thỏ bị Rùa chê chậm chạp nên đã thách đấu chạy đua.
Cuộc đua diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều con vật. Thỏ tự tin vào tốc độ của mình, xem thường Rùa nên đã thua cuộc. Rùa kiên trì, chăm chỉ nên đã chiến thắng.
Câu chuyện thể hiện sự kiêu ngạo của Thỏ và sự cần mẫn, tự tin của Rùa.
Câu chuyện muốn truyền tải bài học về sự thành công.
Bài học: Sự chăm chỉ, cần mẫn và tự tin sẽ giúp đạt được chiến thắng. Chậm mà chắc, biết sức mình quan trọng hơn nhanh chóng nhưng kiêu ngạo.
e. Có thể tóm tắt tình huống truyện, chuỗi sự kiện được kể (cốt truyện), bài học ứng xử trong truyện Thỏ và rùa, Chuyện bó đũa theo mẫu bảng sau:
Nội dung kể về câu chuyện Thỏ và Rùa, trong đó Thỏ bị Rùa chê chậm chạp nên đã thách đấu chạy đua.
Cuộc đua diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều con vật. Thỏ tự tin vào tốc độ của mình, xem thường Rùa nên đã thua cuộc. Rùa kiên trì, chăm chỉ nên đã chiến thắng.
Câu chuyện thể hiện sự kiêu ngạo của Thỏ và sự cần mẫn, tự tin của Rùa.
Câu chuyện muốn truyền tải bài học về sự thành công.
Bài học: Sự chăm chỉ, cần mẫn và tự tin sẽ giúp đạt được chiến thắng. Chậm mà chắc, biết sức mình quan trọng hơn nhanh chóng nhưng kiêu ngạo.
g.
- Em cần rút ra một số bài học chính từ truyện Thỏ và rùa. Chẳng hạn: chăm chỉ sẽ giúp đến đích sớm hơn; hơn thua nhau ở việc làm, hành động thực tế, không ở lời nói suông; kẻ kiêu ngạo, chủ quan sẽ chuốc lấy thất bại,...
- Xem xét, so sánh hai tình huống của truyện chỉ ra điểm giống nhau, điểm khác nhau cơ bản giữa hai tình huống:
A. Hai nhân vật đều là thỏ hoặc hai nhân vật đều là rùa, chạy thi với nhau; và vì một lí do nào đó, con vật tưởng là yếu hơn, chậm hơn đã giành chiến thắng.
B. Thỏ và rùa thách nhau chạy thi; thỏ ỷ mình chạy nhanh, xem thường đối phương nên thua cuộc; rùa chăm chỉ chạy hết sức mình nên đã chiến thắng.
- Suy nghĩ tìm câu trả lời theo hai hướng:
+ Thay đổi tình huống, nhân vật, nội dung, ý nghĩa của bài học sẽ thay đổi: sẽ có một bài học khác hẳn.
+ Thay đổi tình huống, nhân vật, nội dung, ý nghĩa của bài học có thể không thay đổi nhưng mức độ thấm thía của bài học có thể sẽ giảm đi (hoặc tăng lên).
Kết luận: Với tình huống A, việc thua cuộc trở nên kém bất ngờ, nhục nhã, các bài học nêu lên từ đó (chăm chỉ sẽ giúp đến đích sớm hơn; hơn thua nhau ở việc làm, hành động thực tế, không ở lời nói suông; kẻ kiêu ngạo, chủ quan sẽ chuộc lấy thất bại,...) sẽ không được tô đậm như tình huống B, trở nên kém sâu sắc, thấm thía.
Câu 2
Đọc văn bản Con cáo và quả nho và trả lời các câu hỏi phía dưới:
a. Tóm tắt tình huống truyện, chuỗi sự kiện (cốt truyện) truyện Con cáo và quả nho và hoàn thành theo mẫu bảng đưới đây. Dựa vào các bài tập mà em đã thực hiện, cho biết: việc tóm tắt tình huống truyện với tóm tắt chuỗi sự kiện (cốt truyện) khác nhau như thế nào?
Nội dung | Con cáo và quả nho |
Tình huống | |
Chuỗi sự kiện (cốt truyện) |
b. Trong khi chứng minh về tính ngắn gọn hàm súc của truyện ngụ ngôn, nhiều ý kiến thống nhất rằng các truyện Hai người bạn đồng hànhvà con gấu, Con cáo và quả nho là những truyện tiêu biểu. Nhưng khi cần xác định trong hai truyện này, truyện nào ngắn gọn hơn, ý kiến chưa ngã ngũ. Theo em, cần thực hiện việc so sánh như thế nào để kết luận đưa ra thuyết phục được mọi người?
c. Giả sử những quả nho trong truyện Con cáo và quả nho biết nói, theo em chúng sẽ nói gì với con cáo hoặc với chính mình trong trường hợp này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ lại văn bản mẫu và phần tri thức Ngữ Văn bài 2 về truyện ngụ ngôn trong SGK Ngữ Văn 7 tập 1 trang 32 để trả lời câu hỏi liên quan
Lời giải chi tiết:
a. Với yêu cầu thứ nhất, có thể tóm tắt tình huống truyện, chuỗi sự kiện (cốt truyện) truyện Con cáo và quả nho như sau:
Cáo rất đói và khát, nên đã lén vào vườn nho để trộm nho chín.
Giàn nho cao quá, cáo cố gắng nhảy lên hái nhiều lần nhưng không với tới.
Cuối cùng, cáo bỏ đi và tự an ủi mình bằng cách nói nho xanh, chua và có sâu.
b.
Số câu, chữ | Hai người bạn đồng hành và con gấu | Con cáo và quả nho |
Số câu | 7 | 5 |
Số chữ | 126 | 79 |
c.
“Cáo lẩm bẩm:
- Ai mà thèm những trái nho xanh lè đó. Chua lắm! Không chừng lại có cả sâu trong đó nữa.
Quả nho nghĩ bụng:
- Những anh chàng như cáo mà phải chịu đói khát thật đáng đời.”
Hoặc:
“Quả nho nghe cáo lẩm bẩm, nói rì rào theo gió nhẹ:
- Lêu lêu... ! Mắc cỡ. Lêu lêu... !"
Câu 3
Dựa vào bảng sau, xác định tình huống truyện, bài học, tác dụng của tình huống trong việc thể hiện bài học trong các truyện Hai người bạn đồng hành và con gấu,Chó sói và chiên con:
Nội dung | Hai người bạn đồng hành và con gấu | Chó sói và chiên con |
Tình huống truyện | ||
Bài học | ||
Tác dụng của tình huống truyện (trong việc thể hiện bải học) |
Phương pháp giải:
Đọc lại 2 văn bản trong sách giáo khoa và tham khảo phần câu hỏi suy nghĩ và phản hồi đã được học trong SGK Ngữ Văn 7 tập 1 trang 39
Lời giải chi tiết:
Nội dung | Hai người bạn đồng hành và con gấu | Chó sói và chiên con |
Tình huống truyện | Một con gấu xuất hiện khiến hai người bạn đồng hành hoảng sợ. Một người nhanh chân leo lên cây thoát thân. Người kia chạy không kịp đành nằm im chờ chết. Gấu đến ngửi ngửi anh ta rồi đi. Người thoát thân tò mò hỏi ông gấu nói gì và nhận được câu trả lời vừa là phê phán, vừa là bài học. | Một con sói đang trong cơn đói, muốn ăn thịt chiên con, nhưng lại muốn kiếm cớ làm cho việc ăn thịt chiên trở nên “phải lẽ” Các lí lẽ sói nêu ra đều quá vô lí, bịa đặt, bị chiên phủ nhận dễ dàng. Cuối cùng sói quy tội: đã là chiên, chó, gười thì đều có tội và đều đáng bị sói ăn thịt. |
Bài học | - Không nên tin vào những kẻ bỏ mặc bạn bè trong cơn hoạn nạn. - Bỏ mặc bạn bè trong hoạn nạn là ích kỉ, xấu xa. | - Kẻ mạnh thường nói càn. - Lí lẽ của kẻ yếu không bằng móng vuốt kẻ mạnh. - Khi kẻ mạnh, kẻ ác lộng hành, lẽ phải, công lí sẽ bị chà đạp. |
Tác dụng của tình huống truyện (trong việc thể hiện bài học) | Làm cho câu chuyện bất ngờ, hồi hộp gây ấn tượng mạnh, từ đó nhấn mạnh bài học về việc nhìn nhận con người. | Tô đậm tính cách độc ác, hung hãn, bất chấp lẽ phải của sói, làm cho sự việc trở nên hài hước và bài học cảnh báo trở nên sâu sắc, nhức nhối hơn. |
Câu 4
Thể hiện cách đọc sáng tạo về một truyện ngụ ngôn đã học, đã đọc bằng cách làm một bài thơ (lục bát, bốn chữ, năm chữ, song thất lục bát,...) hoặc vẽ một bức tranh.
Phương pháp giải:
Lấy cảm hứng từ một truyện ngụ ngôn đã học, đã đọc, dựa vào cảm nhận, trải nghiệm của bản thân để chọn một cách thể hiện sự sáng tạo của mình theo gợi ý của đề bài:
- Làm một bài thơ (lục bát, bốn chữ, năm chữ, Song thất lục bát,...).
- Vẽ một bức tranh.
Lời giải chi tiết:
Con cáo và chùm nho
Thái Bá Tân
Một con cáo đang khát
Bỗng thấy một chùm nho
Một chùm nho vừa chín
Quả rất mọng và to
Nó nhảy lên, định hái
Mà nho lại quả cao
Rồi thử mấy lần nữa
Tiếc là chẳng lần nào
Với được chùm nho ấy
Cuối cùng đành bỏ đi
Vừa đi, nó vừa nghĩ:
“Nho còn xanh, ngon gì!”
……
Con cáo và chùm nho
Thấy chùm nho mọng trên giàn
Cáo tìm mọi cách hái ăn đỡ thèm
Nhảy lên tụt xuống mấy phen
Bực mình chẳng được, cáo bèn chê bôi:
- Nho còn xanh quá đi thôi...
Câu 5
Vận dụng cách nói thú vị, hài hước để kể lại truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.
Lời giải chi tiết:
Để đáp ứng yêu cầu vận dụng cách nói thú vị, hài hước khi kể lại truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, em cần:
- Xem lại các bài thực hành nói và nghe: Kể lại một truyện ngụ ngôn, Sử dụng và thưởng thức cách nói hài hước thú vị trong giao tiếp.
- Cố gắng:
+ Tô đậm yếu tố, tính chất hài hước một cách bất ngờ trong câu chuyện được kể.
+ Sử dụng hình thức chế, nhại (chế, nhại từ ngữ, câu nói của một nhân vật mà sự phê phán hướng đến trong câu chuyện một cách nhã nhặn).
+ Sử dụng một số biện pháp diễn đạt hài hước: chơi chữ, nói quá, so sánh, dùng câu nói hài hước học được từ người khác.
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo
Bài học Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 7, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 7, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Giải Bài tập Đọc trang 19 sách bài tập Ngữ văn 7 - Chân trời sáng tạo mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 7 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.