Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều (Môn Ngữ văn Lớp 6)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 6, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều
Câu 1
Trả lời câu hỏi 1 Bài tập tiếng Việt, SBT trang 24 Ngữ văn 6 Cánh diều
Xác định nghĩa của các từ bò, trong ở mỗi trường hợp dưới đây:
Bò:
a) Lo gì việc ấy mà lo
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu.
(Nguyễn Du)
b) Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi. (Tục ngữ)
c) Tôi quên hết mọi việc, phi như bay về và thấy một chiếc xe bọc vải bạt bò, ọc ạch trên con đường làng chật hẹp. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
Trong:
a) Ngòi đầu cầu nước trong như lọc.
(Đoàn Thị Điểm)
b) Tiếng suối trong như tiếng hát xa.
(Hồ Chí Minh)
c) Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má. (Nguyên Hồng)
Phương pháp giải:
Nhớ lại khái niệm về từ đa nghĩa nêu trong phần Kiến thức ngữ văn ở SGK: Từ đa nghĩa là những từ có từ hai nghĩa trở lên.
Lời giải chi tiết:
- Xác định nghĩa của từ bò ở mỗi cách dùng cụ thể:
a) bò (trong Kiến trong miệng chén có bò đi đâu) chỉ sự chuyển động thân thể ở tư thế bụng áp xuống bằng cử động của toàn thân hoặc những chân ngắn.
b) bò (trong … bảy tháng biết bò) chỉ sự di chuyển cơ thể chậm chạp ở tư thế nằm sấp bằng cử động của hai tay và đầu gối.
c) bò (trong … một chiếc xe bọc vải bạt bò ọc ạch trên đường làng chật hẹp) chỉ sự di chuyển một cách khó khăn, chậm chạp.
- Xác định nghĩa của từ trong:
a) Trong (trong Ngòi đầu cầu nước trong như lọc) chỉ trạng thái nước sạch, có thể nhìn xuyên qua lớp nước
b) Trong (trong Tiếng suối trong như tiếng hát xa) miêu tả sự thanh thoát nhẹ nhàng của âm thanh.
c) Trong (trong Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong…) chỉ trạng thái long lanh của đôi mắt.
Câu 2
Trả lời câu hỏi 2 Bài tập tiếng Việt, SBT trang 24 Ngữ văn 6 Cánh diều
(Bài tập 2, SGK) Tìm thêm ba từ chỉ bộ phận cơ thể người và kể ra một số vị dụ về sự chuyển nghĩa của chúng (sang nghĩa chỉ bộ phận của vật).
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về từ chuyển nghĩa
Lời giải chi tiết:
Phân tích ví dụ mẫu đã cho (Mũi: mũi dao, mũi súng, mũi đất, mũi quân, mũi thuyền) ta thấy mũi là từ vốn chỉ bộ phận cơ thể người (cụ thể, chỉ bộ phận nhô lên ở giữa mặt người và động vật có xương sống, dùng để thở và ngửi) nhưng được chuyển nghĩa để chỉ:
a) bộ phận có đầu nhọn, nhô lên phía trước của một số vật: mũi dao, mũi kim, mũi giày, mũi thuyền;
b) mỏm đất nhô ra: mũi đất, mũi Cà Mau…
c) bộ phận của lực lượng có nhiệm vụ tiến công theo một hướng nhất định: mũi quân, mũi tiến công, mũi chủ lực,...
Dựa vào phân tích trên, ta tìm được các từ vốn chỉ bộ phận cơ thể người (đầu, chân) chuyển sang nghĩa chỉ bộ phận của vật:
- Chân: chân bàn, chân ghế, chân núi, ...
- Đầu: đầu bảng, đầu tiên, đầu nguồn, ...
Câu 3
Trả lời câu hỏi 3 Bài tập tiếng Việt, SBT trang 24 Ngữ văn 6 Cánh diều
(Bài tập 3, SGK) Tìm từ đa nghĩa, từ đồng âm trong những câu dưới đây:
a) Chín:
- Quýt nhà ai chín đỏ cây
Hỡi em đi học, hây hây má tròn.
(Tố Hữu)
- Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
(Tục ngữ)
b) Cắt:
- Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm rồi lặn xuống nước. (Sự tích Hồ Gươm)
- Việc làm khắp chốn cùng nơi
Giục đi cắt cỏ vai tôi đã mòn.
(Ca dao)
- Bài viết bị cắt một đoạn. (Dẫn theo Hoàng Phê)
- Chúng cắt lượt nhau suốt ngày vào cà khịa làm cho Trũi không chịu được.
(Tô Hoài)
Phương pháp giải:
Chú ý phân biệt từ đa nghĩa (là từ có hai nghĩa trở lên) với từ đồng âm (là những từ có cách phát âm và viết chữ giống nhau nhưng có nghĩa khác nhau).
Lời giải chi tiết:
a) Trong những câu ở a), ta có:
- Từ đa nghĩa chín với các nghĩa: (quả) ở vào giai đoạn phát triển đầy đủ nhất, thường có màu đỏ hoặc màu vàng, có hương thơm (Quýt nhà ai chín đỏ cây); thành thạo, tinh thông nghề nghiệp (Một nghề cho chín...).
- Từ chín là tính từ với nghĩa: thành thạo, tinh thông (Một nghề cho chín...) đồng âm với chín là số từ chỉ số đứng ngay sau số tám, trước số mười (... còn hơn chín nghề).
b) Trong những câu ở b), ta có:
- Từ đa nghĩa cắt với các nghĩa: làm đứt bằng vật sắc (...cắt cỏ); tách ra một phần để bỏ bớt (Bài viết bị cắt một đoạn); phân chia nhau để làm việc gì theo sự luân phiên (Chúng cắt lượt nhau suốt ngày vào cà khịa...).
- Từ cắt là danh từ chỉ loài chim ăn thịt nhỏ hơn diều hâu, cánh dài và nhọn, bay rất nhanh (nhanh như cắt) đồng âm với cắt là động từ với các ý nghĩa chỉ ra ở trên.
Câu 4
Trả lời câu hỏi 4 Bài tập tiếng Việt, SBT trang 25 Ngữ văn 6 Cánh diều
Giải câu đố sau và chỉ ra các từ đồng âm được dùng trong đó:
Mồm bò mà không phải mồm bò.
(Câu đố Việt Nam)
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về từ đồng âm khác nghĩa
Lời giải chi tiết:
a) Xác định nghĩa của từ bò trong các cụm từ mồm bò ta thấy:
- Ở mồm bò thứ nhất, bò là động từ (chỉ sự di chuyển thân thể của động vật trên bề mặt), còn ở cụm từ mồm bò thứ hai, bò là danh từ (chỉ loài động vật nhai lại, chân có hai móng, sừng rỗng và ngắn, nuôi để lấy sức kéo, thịt hoặc sữa).
b) Giải câu đố: con ốc sên.
Câu 5
Trả lời câu hỏi 5 Bài tập tiếng Việt, SBT trang 25 Ngữ văn 6 Cánh diều
(Bài tập 4, SGK) Tìm các từ mượn trong những câu dưới đây.
Đối chiếu với nguyên dạng trong tiếng Pháp, tiếng Anh để biết nguồn gốc của những từ đó.
- Từ tiếng Pháp: automobile, tournevis, carton, sou, képi, câble.
- Từ tiếng Anh: TV (television).
a) Đó lần đầu tiên tôi thấy ô tô. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
b) Lúc đó, tôi vô cùng cảm phục những chủ thợ điện với túi đồ nghề gồm kìm, tuốc nơ vít cột ngang lưng trèo lên cột điện nối dây cáp. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
c) Khi tôi đọc sách, mọi thông tin vào đầu tôi rất chậm, nhưng khi xem ti vi bằng tai và mắt thì tôi cảm nhận mọi việc nhạy bén hơn nhiều. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
d) Chọn lúc cả nhà không ai để ý, tôi lén lấy 2 xu để làm tiền lệ phí. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
e) Tôi khẩn khoản xin cha mua cho tôi một chiếc mũ kết và tự tay tôi làm một cặp kính đeo mắt của phi công bằng bìa các tông. (Hon-đa Sô-i-chi-rô)
Phương pháp giải:
Đối chiếu với nguyên dạng để tìm nguồn gốc các từ mượn
Lời giải chi tiết:
- Các từ mượn tiếng Pháp: ô tô, tuốc nơ vít, cáp, xu, kết, các tông.
- Các từ mượn tiếng Anh: tivi.
Câu 6
Trả lời câu hỏi 6 Bài tập tiếng Việt, SBT trang 25 Ngữ văn 6 Cánh diều
(Bài tập 6, SGK) Đọc văn bản dưới đây và viết một đoạn văn (khoảng 4 – 5 dòng) cho biết:
Theo tác giả, khái niệm “ngọt” trong tiếng Việt đã được nhận thức qua những giác quan nào?
VỀ TỪ “NGỌT”
Ngọt biểu thị một khái niệm không sao thiếu được trong đời sống vật chất cũng như tình cảm con người. Vừa mới ra đời, ta đã cần đến vị ngọt của dòng sữa mẹ. Lớn lên, ta càng dần hiểu thêm thế nào là lời nói ngọt. [..]
Đầu tiên, hãy nói đến cái nghĩa cơ bản, hoàn toàn vật chất của từ ngọt. [...] Ngọt của mía, của đường phèn, mật ong hoặc của trái cây chín khác với cái ngọt của bát canh cua, của nước dùng nấu bằng thịt, xương. [...]
Trong dây chuyền phát triển nghĩa của ngọt, ta khó lòng mà bỏ qua được một nhận xét khái niệm ngọt đã được con người lần lượt nhận thức qua năm giác quan. Từ cái ngọt nếm được bằng lưỡi, ta có cái ngọt ngửi thấy được nhờ mũi, do hai giác quan này rất cần nhau: thoảng qua một mùi gì ngọt ngọt, mùi thơm ngọt của dứa rồi cơ hồ ngọt có thể nhìn thấy bằng mắt giữa ngày xuân ngọt nắng, cái nắng vàng ngọt như mật [ ]; hay phối hợp cảm giác để thấy dao bén ngọt, cắt cho ngọt tay liềm, […]. Từ đây, từ ngọt đã từ bỏ khá xa cái vị đường cụ thể ban đầu, và ngọt nghe được nhờ tai như đàn ngọt hát hay, ngọt giọng đã mang một ý nghĩa khá trừu tượng, tuy rằng lời nói ngọt chẳng qua cũng là lời đường mật mà ra, và trong lối so sánh ta vẫn dùng nói ngọt như mía lùi cứ y như là giữa hai cái ngọt này chưa bao giờ có sự chia tách về nghĩa vậy [...].
(Đào Thản, Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988)
Phương pháp giải:
Đọc văn bản Về từ “ngọt”
Lời giải chi tiết:
Theo tác giả, khái niệm "ngọt" trong tiếng Việt được nhận thức qua những giác quan sau:
- Lưỡi (cảm nhận vị ngọt của mía, đường phèn,…).
- Mũi (cảm nhận mùi thơm ngọt của dứa).
- Mắt (cảm nhận cái nắng vàng ngọt như mật).
- Tài (cảm nhận lời nói ngọt, lời đường mật)
- Phối hợp các giác quan (cảm nhận dao bén ngọt, cắt cho ngọt tay liềm).
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều
Bài học Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 6, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 6, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Giải Bài tập tiếng Việt trang 24,25 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Cánh diều mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 6 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.