Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều

Tổng quan nội dung

Hướng Dẫn Giải: Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều (Môn Ngữ văn Lớp 12)

Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 12, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.

Đọc và tìm hiểu văn bản sau rồi trả lời các câu hỏi bên dưới Văn bản trên có đáp ứng của một bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện không? Vì sao?

Định hướng

Trả lời Câu hỏi Định hướng trang 35 SGK Văn 12 Cánh diều

a. Đọc và tìm hiểu văn bản sau rồi trả lời các câu hỏi bên dưới:

- Văn bản lựa chọn cấp độ nào để tiến hành so sánh? Việc so sánh dựa trên những tiêu chí nào

- Việc lập bảng có tác dụng gì trong thao tác so sánh? Xác định hai ý chính trong đoạn văn sau bảng. Hai ý này có quan hệ thế nào với những tiêu chí lập bảng ở trên

- Những khác biệt nào giữa hai tác phẩm được nêu ra ở văn bản ?

b. Văn bản trên có đáp ứng của một bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện không? Vì sao?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản trên và trả lời câu hỏi. 

Lời giải chi tiết:

a. Trả lời câu hỏi:

- Văn bản lựa chọn so sánh cấp độ mô típ truyện. Việc so sánh dựa trên các tiêu chí: 

+ Điểm tương đồng: tiêu chí nhân vật, tình cảm giữa hai nhân vật chính, kết thúc tác phẩm

+ Điểm khác biệt: tiêu chí nhân vật, tình cảm giữa hai nhân vật chính, trở ngải của tình yêu, kết thúc 

- Việc lập bảng có tác dụng: dễ dàng nhìn các sự khác biệt, giống nhau giữa các tác phẩm và từ đó, phân tích chúng một cách dễ dàng hơn. 

Hai ý chính trong đoạn văn sau bảng:

+ Việc tiếp thu, sáng tạo mô típ cốt truyện Trương Chi của tác giả Vũ Trinh

+ Phân tích giá trị nội dung của hai tác phẩm 

Mối quan hệ thế với những tiêu chí lập bảng ở trên: là sự phân tích, nhận xét được rút ra khi lập bảng so sánh của người viết về mô típ truyện của hai tác phẩm “ Câu chuyện tình ở Thanh Trì” và “ Trương Chí”

- Sự khác biệt được nêu ra của hai văn bản: nhân vật, tình cảm giữa hai nhân vật chính, trở ngại tình yêu và kết thúc 

b. Văn bản trên đã đáp ứng của một bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện. Vì văn bản có đủ nội dung của một bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện: đưa ra đối tượng và phạm vi so sánh, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm và rút nhận xét, đánh giá của bản thân.

Thực hành viết

Trả lời Câu hỏi Thực hành viết trang 38 SGK Văn 12 Cánh diều

So sánh yếu tố kì ảo trong: “Chuyện chức phán sự đền tản viên” của Nguyễn Dữ với yếu tố kì ảo trong truyện cổ tích “Thạch Sanh”


Phương pháp giải:

Dựa vào kiến thức phần Viết

Lời giải chi tiết:

Việc sử dụng yếu tố kì ảo của hai tác phẩm có nhiều điểm tương đồng. Trước hết, trong cả hai tác phẩm Chuyện chức phán sự Đền Tản Viên và truyện cổ tích Thạch Sanh đều xuất hiện những nhân vật kì ảo, không có thật. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, hình ảnh các nhân vật kì ảo được miêu tả vô cùng chi tiết, ẩn giấu những ý nghĩa như hồn ma tướng giặc Bách hộ họ Thôi là tên tướng bại trận của Bắc Triều, cái hồn bơ vơ ở Nam Triều, tranh miếu chiếm đền Thổ Công. Đây là hiện thân của cái ác, lừa lọc, giả dối. Hay hình ảnh nhân vật Thổ Công giữ chức Ngực sự đại phu từ thời Lý Nam Đế, chết vì cần vương.. Diêm Vương là người đứng đầu Minh ti, trực tiếp phán xử vụ án giữa Tử Văn và hồn ma tướng giặc. Đây đều là những nhân vật kì ảo, không có thực, góp phần thể hiện cốt truyện. Còn trong truyện cổ tích Thạch Sanh, cũng có những nhân vật không có thực, chỉ tồn tại trong thế giới cổ tích như: Ngọc Hoàng, thái tử, chằn tinh.. , đồ vật thần kì như niêu cơm thần ăn mãi không hết, tiếng đàn giúp cho Thạch Sanh được giải oan. Tiếp đó, sự tương đồng còn được thể hiện trong mô típ của cả hai tác phẩm: vong hồn vẫn còn tồn tại sau khi chết, trong thế giới thần linh có sự phân chia Thiện- Ác… Đây là mô típ với những tình tiết khá quen thuộc xuất hiện trong nền văn học Việt Nam từ thể loại truyện cổ tích thần kì tới truyện truyền kì.

Mặc dù vậy, yếu tố kì ảo được sử dụng có những điểm khác biệt nhất định. Đầu tiên, sự xuất hiện của nhân vật chính trong cả hai tác phẩm: Truyện Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên với nhân vật chính là Ngô Tử Văn, được tác giả giới thiệu vô cùng cụ thể: tên, nơi sinh gắn với những địa điểm có thật “huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang”. Truyện cổ tích Thạch Sanh, nhân vật chính Thạch Sanh có nguồn gốc xuất thân kì ảo: Là thái tử do Ngọc hoàng cử xuống đầu thai làm con của hai vợ chồng già nghèo khó nhưng tốt bụng luôn giúp đỡ mọi người…Tiếp đó, sự khác nhau được thể hiện trong kết thúc truyện: Nếu như trong Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên, Tử Văn trở về, nhận chức phán sự đền Tản Viên thì ở truyện cổ tích Thạch Sanh, Thạch Sanh được kết duyên với công chúa và được truyền lại  ngôn vua. Hơn thế nữa, về giá trị của tác phẩm được thể hiện qua mô típ chuyện cũng có nhiều điểm riêng biệt: Truyện cổ tích Thạch Sanh đã đề cao triết lý sống: “ ở hiền gặp lành”, kẻ ác phải chịu báo ứng còn trong Chức phán sự đền Tản Viên đề cao sự cứng cỏi, can đảm của kẻ sĩ, đấu tranh tìm sự công bằng không phải cho mình mà cho người yếu thế.

Qua sự phân tích, đánh giá giữa những điểm tương đồng và khác biệt, ta có thể thấy yếu tố kì ảo trong thể loại truyền kì là sự kế tục của thể loại văn học dân gian: Sự xuất hiện của những nhân vật kì ảo không có thực hay là mô típ truyện có những chi tiết hoang đường, huyền ảo như: người chết sống lại, thế giới thần linh cũng phân chia thiện ác… Dòng truyện kì ảo trung đại, dù vẫn còn mang bóng dáng của văn học dân gian, nhưng đây là những sáng tác đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, gắn liền với sự bừng ngộ, sự ý thức của con người đối với hiện thực. Cảm hứng của Nguyễn Dữ khi sáng tác Truyền kì mạn lục là lấy cái “ kì” để nói cái “ thực”.. Vì lẽ đó, yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức kể chuyện khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn, sinh động. Ngoài ra, yếu tố kì ảo và yếu tố hiện thực đan xen vào nhau, cùng tồn tại để bộ lộ tư tưởng của tác giả. Điều này khác với truyền cổ tích Thạch Sanh khi mà yếu tố kì ảo có vai trò to lớn, không thể thiếu trong sự phát triển tình tiết, giải quyết xung đột: chiếc đàn thần, niêu cơm của Thạch Sanh….

Rèn luyện kĩ năng viết

Trả lời Câu hỏi 1 Rèn luyện kĩ năng viết trang 40 SGK Văn 12 Cánh diều

Đọc lại đoạn trích so sánh giữa “Câu chuyện tình ở Thanh Trì” và “Trương Chi” ( ý a trong mục 1.2) và phân tích làm sáng tỏ ba điểm cần lưu ý sau:

- Xác định rõ cấp độ so sánh: đề tài hay cốt truyện, nhân vật, hình ảnh...

- Các dẫn chứng phục vụ cho việc so sánh phải chính xác và cùng cấp độ ( cốt truyện với cốt truyện, hình ảnh với hình ảnh, nhân vật với nhân vật,...)

- Chỉ ra được  ý nghĩa của sự tương đồng hoặc khác biệt giữa hai tác phẩm 

Phương pháp giải:

Xem lại kiến thức đã làm của bài viết trên.

Lời giải chi tiết:

Mô típ là cách lặp lại một đề tài hoặc cốt truyện, đem lại sự đặc trưng cho tác phẩm. Để tạo ấn tượng với người đọc, mỗi tác giả cần tạo ra một mô típ cho câu chuyện của mình. Vì lẽ đó, thông qua việc so sánh mô típ cốt truyện giữa Câu chuyện tình ở Thanh Trì và truyện cổ tích Trương Chi, ta có thấy rõ dấu ấn sáng tạo của mỗi tác giả. 

Việc sử dụng mô típ của hai tác phẩm trên có khá nhiều điểm tương đồng. Trước hết, cả hai câu truyện đều xây dựng nhân vật nam là chàng trai chèo thuyền, nhà nghèo nhưng có giọng hát quyến rũ còn nhân vật nữ xuất thân là “ lá ngọc cành vàng”. Cụ thể, trong truyện cố tích Trương Chi, nữ chính là Mỵ Nương, con gái của thừa tướng còn nam chính chỉ là chàng trai con nhà thuyền chài. Ở Câu chuyện tình ở Thanh Trì cũng lựa chọn hình tượng nhân vật nam nữ chính như vậy.  Đó còn là sự tương đồng trong tình cảm giữa hai nhân vật chính khi mối tình đều xuất phát từ người con gái trong hoàn cảnh nghe được tiếng hát nên say mê và ôm tương tư và đều là tình yêu lỡ làng, dang dở. Cả hai tác phẩm đều được kết thúc với tình tiết là một người chết với trái tim hóa đá và mối oan tình chỉ được hóa giải bằng giọt nước mắt của người còn lại.

Mặc dù vậy, hai tác phẩm trên có những điểm khác biệt nhất định. Về hình tượng nhân vật nam chính: Trong khi ở Câu chuyện tình ở Thanh Trì là Nguyễn Sinh khôi ngô tuấn tú thì nhân vật Trương Chi trong Trương Chi là người có ngoại hình xấu xí. Tiếp đó, diễn biến tình cảm giữa hai nhân vật chính cũng có sự khác nhau. Chuyện tình trong Câu chuyện tình ở Thanh Trì diễn ra với tình tiết Nguyễn Sinh không gặp mặt trực tiếp cô gái; nhân vật nữ chủ động đính ước với chàng trai và tình yêu xuất phát từ hai phía. Ngược lại, trong Trương Chi, mối tình diễn ra khi Trương Chi gặp và say mê Mỵ Nương nhưng Mị Nương hết tương tư khi nhìn thấy diện mạo Trương Chi và đây chỉ là tình yêu đơn phương của Trương Chi. Vì lẽ đó, điểm khác nhau tiếp theo là trở ngại của tình yêu trong hai tác phẩm: Một bên là sự ngăn cản của người cha con gái (Câu chuyện tình ở Thanh Trì), bên còn lại là do sự vô tình của chính nhân vật trong cuộc- Mị Nương (Trương Chi). Kết thúc của mỗi tác phẩm cũng có sự khác nhau do trong Câu chuyện tình ở Thanh Trì, cô gái chết với trái tim hóa đá in bóng hình người tình thì Trương Chi chết với trái tim hóa đá và chỉ Mị Nương nhìn thấy bóng một chàng trai chèo thuyền đang hát trong khối đá ấy.

Qua việc so sánh điểm tương đồng và khác biệt, chúng ta có thể nhận thấy tác giả Vũ Trinh tiếp thu khá rõ cốt truyện cổ tích Trương Chi: cũng câu chuyện về tình yêu đầy bất hạnh khởi đầu bằng tiếng hát, kết thúc bằng cái chết và trái tim hóa đá trong nỗi oan tình. Tuy vậy, ông cũng đã thay đổi một số tình tiết để mang lại cho tác phẩm một diện mạo mới, một ý nghĩa mới. Trong Câu chuyện tình ở Thanh Trì còn hướng tới hiện thức xã hội bởi do chính luật lệ hà khắc của xã hội phong kiến đã dẫn đến nỗi oan khuất, bi kịch của tình yêu lứa đôi. 

Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều

Bài học Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 12, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.

Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)

Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:

  • Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
  • Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 12, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
  • Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.

Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn

Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.

Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn

Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Soạn bài Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Cánh diều mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 12 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.