Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu)

Tổng quan nội dung

Hướng Dẫn Giải: Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu) (Môn Ngữ văn Lớp 12)

Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu). Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 12, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.

Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu) bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12

Tác giả

Tác giả Phan Đình Diệu

1. Tiểu sử

- Ông sinh ngày 12 tháng 6 năm 1936, lớn lên tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

- Năm 1954, ông tốt nghiệp trung học tại trường kháng chiến Phan Đình Phùng - Hà Tĩnh, ra Hà Nội thi vào trường Đại học Khoa học.

- Hết năm thứ nhất, ông chọn trường Đại học Sư phạm Khoa học. Cũng chính tại đây, Phan Đình Diệu đã tìm thấy sự say mê đối với ngành toán học. Năm 1957, ông tốt nghiệp thủ khoa và được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy.

-Năm 1962, ông được cử đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Khoa Toán học tính toán và Điều khiển học, trường Đại học Tổng hợp quốc gia Moskva mang tên Lomonosov.

-Năm 1965, sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, ông được đề nghị ở lại làm tiếp luận án tiến sĩ khoa học và đến năm 1967, ông về nước với học vị Tiến sĩ Khoa học.

-Năm 1971, ông được đề nghị làm Trưởng phòng Toán học tính toán của Uỷ ban Khoa học Nhà nước

-Năm 1975, trong một chuyến thực tập tại Pháp, ông đã được tiếp xúc với nhiều thành tựu hiện đại của ngành tin học trên thế giới. Từ đó, ông đã say mê tìm hiểu hai hướng phát triển mà ông cho là có triển vọng nhất và có thể ứng dụng và phát triển ở Việt Nam là vi tin học (trên cơ sở kỹ thuật vi xử lý và máy vi tính) và viễn tin học (trên cơ sở công nghệ viễn thông và mạng máy tính).

-Năm 1977, Viện Khoa học tính toán và điều khiển được chính thức thành lập, và ông được phân công làm viện trưởng. Ông là viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học tính toán và Điều khiển (nay là Viện Công nghệ Thông tin Việt Nam). Là người dự thảo kế hoạch và cũng là người quản lý, từ năm 1977 đến 1985, ông đã đưa viện vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại của buổi đầu hoạt động, xây dựng được một số hướng nghiên cứu chính về tin học.

-Sau đó, ông làm Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về Công nghệ Thông tin khóa I (1993-1997), Thành viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt Nam (từ năm 1992).

-Ông còn là người sáng lập và Chủ tịch đầu tiên Hội Tin học Việt Nam.

-Ông giảng dạy các môn học: độ phức tạp tính toán, lý thuyết mật mã và an toàn thông tin, lập luận logic trong các hệ tri thức cho sinh viên và học viên sau đại học tại Khoa Công nghệ Thông tin - Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

-Thập niên 90, ông được Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Hà Phan bảo lãnh, giới thiệu trở thành một Ủy viên của Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các khoá III, IV, V, VI, VII, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa V, Quốc hội Việt Nam khóa VI.

-Ông hoạt động phong trào dân chủ, đòi đổi mới chính trị (đa nguyên, đa đảng) để -phát triển đất nước, do đó bị gạt bỏ khỏi danh sách đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên tiếng nói của ông có tính khoa học cao, nên có sức thuyết phục lớn, đặc biệt là đối với giới khoa học tại Hà Nội.

-Ông mất tại nhà riêng ngày 13 tháng 5 năm 2018 sau hơn một năm điều trị sau khi bị đột quỵ

Sơ đồ tư duy Tác giả Phan Đình Diệu

Tác giả Năng lực sáng tạo - Phan Đình Diệu

  • I. Thông tin chung
    1. Tên đầy đủ: Phan Đình Diệu
    2. Năm sinh - Năm mất: 1916 - 1988
    3. Quê quán: Thừa Thiên Huế
    4. Nghề nghiệp: Nhà giáo, nhà phê bình văn học, nhà văn.
  • II. Sự nghiệp & Quan điểm sáng tạo
    1. Giai đoạn sáng tác:
      • Trước 1945: Thơ mới lãng mạn, tìm tòi thể nghiệm.
      • Sau 1945: Hướng về hiện thực, gắn bó với cuộc sống.
    2. Quan điểm về sáng tạo:
      • Tính tự do của sáng tạo: Nhấn mạnh sự độc lập, cá tính của người nghệ sĩ.
      • Sáng tạo là quá trình tìm tòi, khám phá: Không ngừng đổi mới, thử nghiệm.
      • Sáng tạo gắn liền với cuộc sống: Văn học phải phản ánh và góp phần vào cuộc sống.
      • Vai trò của cảm xúc, trí tưởng tượng: Cảm xúc là nguồn gốc, trí tưởng tượng là phương tiện.
    3. Tác phẩm tiêu biểu:
      • Thơ: Trường ca sông Mã, Những ngọn hải đăng,...
      • Văn xuôi: Năng lực sáng tạo (khái luận), Văn học và đời sống,...
      • Phê bình văn học: Nhiều bài viết có giá trị về các tác giả, tác phẩm.
  • III. Đóng góp & Ảnh hưởng
    1. Đóng góp:
      • Làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam hiện đại.
      • Góp phần vào việc đổi mới lý luận, phê bình văn học.
      • Khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới trong văn học.
    2. Ảnh hưởng:
      • Đối với các nhà văn, nhà thơ: Truyền cảm hứng về sự tự do sáng tạo, gắn bó với đời sống.
      • Đối với giới phê bình: Cung cấp những góc nhìn mới mẻ về văn học.
      • Đối với độc giả: Giúp hiểu sâu sắc hơn về giá trị của văn học.

Tác phẩm

Tác phẩm Năng lực sáng tạo

I. Tìm hiểu chung

- Xuất xứ: Trích trong cuốn Một góc nhìn của trí thức, tập bốn, văn bản trên có nhan đề Năng lực sáng tạo: làm sao để có?

- Năm 2021, văn bản được in lại trong cuốn Trên đường đến những chuẩn mực khoa học với nhan đề Năng lực sáng tạo.

II. Tìm hiểu chi tiết

1. Cách nêu vấn đề nghị luận

Tác giả sử dụng lí lẽ và bằng chứng một cách hiệu quả làm cho bài viết Năng lực sáng tạo có tính thuyết phục cao.

+ Lí lẽ: Sử dụng để làm nổi bạt các luận điểm, sắp xếp một cách logic, chặt chẽ các luận điểm được trình bày theo trật tự, có mối quan hệ mật thiết với nhau, sử dụng nhiều lí lẽ khác nhau để làm rõ những luận điểm khác nhau, lí lẽ thuyết phục hướng tới tính phổ quát trong nhận thức về vấn đề năng lực sáng tạo.

+ Bằng chứng: Đa dạng, phong phú; cụ thể, rõ ràng; hiệu quả, trích dẫn các câu nói của một số nhà khoa học nổi tiếng giúp củng cố luận điểm, tăng tính thuyết phục cho bài viết thể hiện sự hiểu biết của tác giả về vấn đề đang bàn.

2. Sự kết hợp các thao tác nghị luận trong văn bản

1

Giải thích

Khái niệm “năng lực sáng tạo” tầm quan trọng của năng lực sáng tạo.

2

Phân tích

Các biểu hiện của năng lực sáng tạo, điều kiện phát triển của năng lực sáng tạo; sự “công năng” sức mạnh công nghệ với trí tuệ của từng người để làm nên năng lực sáng tạo chung của dân tộc.

3

Chứng minh

Tầm quan trọng của năng lực sáng tạo thông qua dẫn chứng thực tế ảnh hưởng của năng lực sáng tạo đến sự phát triển của cá nhân và xã hội.

4

Bình luận 

Vai trò của năng lực sáng tạo trong cuộc sống hiện đại, giải pháp để phát triển năng lực sáng tạo.

5

Bác bỏ

Người viết phản bác quan điểm cho rằng, sáng tạo chỉ gắn với hoạt động của tri thức, từ đó khẳng định mọi người đều có thể tham gia sáng tạo.

3. Mục đích thái độ của người viết

- Tư tưởng của tác giả khi bàn về vấn đề năng lực sáng tạo của con người: năng lực sáng tạo là phẩm chất thiết yếu, có thể phát triển, cần tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, cần được ứng dụng vào thực tiễn và đó là chìa khóa cho tương lai….

- Bên cạnh những tư tưởng chính trên, tác giả còn thể hiện những quan điểm khác như: năng lực sáng tạo gắn liền với tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và kĩ năng giao tiếp, năng lực sáng tạo cần được phát triển ngay từ khi còn nhỏ và mỗi người cần có ý thức rèn luyện năng lực sáng tạo cho bản thân.

=> Tác giải thể hiện tư tưởng tích cực về năng lực sáng tạo của con người. Có thể khẳng định: khơi dậy năng lực sáng tạo trong từng con người và của cả dân tôc để đưa đất nước tiến kịp cùng thế giới trong thời đại kinh tế tri thức – đó là tư tưởng chính được Phan Đình Diệu gửi gắm qua bài viết này.

III. Tổng kết

1. Nội dung

+ Văn bản giải thích được năng lực sáng tạo là gì, phạm vi bản chất cũng như vai trò của nó đồng thời những điều kiện để phát huy năng lực sáng tạo.

+ Khơi dậy năng lực sáng tạo trong từng con người và của cả dân tộc để góp phần đưa đất nước tiến kịp cùng thế giới trong thời đại kinh tế tri thức.

2. Nghệ thuật

+ Bố cục bài nghị luận chặt chẽ.

+ Lập luận, dẫn chứng sắc bén có chiều sâu.

Sơ đồ tư duy Tác phẩm Năng lực sáng tạo

```html

Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu)

  • I. Tổng quan tác phẩm
    • 1. Tác giả: Phan Đình Diệu
    • 2. Xuất xứ: Tập bài viết "Năng lực sáng tạo" (1995)
    • 3. Thể loại: Nghị luận về vấn đề xã hội, văn hóa, giáo dục
    • 4. Mục đích: Khẳng định vai trò quan trọng của năng lực sáng tạo trong sự phát triển của cá nhân và xã hội.
  • II. Nội dung chính
    • 1. Khái niệm năng lực sáng tạo:
      • Không chỉ là tạo ra cái mới mà còn là giải quyết vấn đề, cải tiến, đổi mới.
      • Là sự kết hợp giữa kiến thức, kinh nghiệm, trí tưởng tượng và ý chí.
    • 2. Vai trò của năng lực sáng tạo:
      • a. Đối với cá nhân:
        • Giúp con người thích ứng với môi trường, vượt qua khó khăn.
        • Mang lại thành công, hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống.
        • Phát triển bản thân, khẳng định giá trị cá nhân.
      • b. Đối với xã hội:
        • Động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học.
        • Giải quyết các vấn đề xã hội, tạo ra sự thịnh vượng.
        • Nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
    • 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo:
      • a. Giáo dục:
        • Cần đổi mới phương pháp giáo dục, khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo.
        • Tạo môi trường học tập cởi mở, khuyến khích tranh luận, phản biện.
      • b. Môi trường xã hội:
        • Xây dựng xã hội dân chủ, tự do, tôn trọng quyền con người.
        • Khuyến khích sự đổi mới, chấp nhận rủi ro, thất bại.
      • c. Bản thân cá nhân:
        • Không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng.
        • Rèn luyện tư duy phản biện, tư duy hệ thống.
        • Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
  • III. Nghệ thuật biểu đạt
    • 1. Lập luận:
      • Mạch lạc, chặt chẽ, có tính thuyết phục cao.
      • Sử dụng nhiều dẫn chứng, ví dụ minh họa phong phú.
    • 2. Ngôn ngữ:
      • Sử dụng ngôn ngữ khoa học, chính xác, giàu hình ảnh.
      • Văn phong sắc sảo, tinh tế, giàu cảm xúc.
  • IV. Ý nghĩa tác phẩm
    • Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của năng lực sáng tạo trong cuộc sống.
    • Khuyến khích mỗi cá nhân phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của mình.
    • Gợi mở những giải pháp để xây dựng một xã hội phát triển bền vững.
```

Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu)

Bài học Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu) mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 12, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.

Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)

Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu), chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:

  • Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
  • Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 12, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
  • Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.

Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn

Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu), chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.

Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn

Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu) mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 12 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.