Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11 (Môn Ngữ văn Lớp 7)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 7, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Đề thi giữa kì 2 Văn 7 bộ sách kết nối tri thức đề số 11 được biên soạn theo hình thức trắc nghiệm và tự luận có lời giải chi tiết giúp các em ôn tập hiệu quả chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp
Câu 1
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (5 điểm)
Đọc văn bản sau:
MÈO LẠI HOÀN MÈO
Ngày xưa có một người nuôi một con mèo. Nghĩ con mèo của mình khôn ngoan, tài giỏi không có loài nào hơn nữa, mới đặt tên cho nó là “Trời”.
Một hôm, có một ông khách đến chơi, thấy sự lạ mới hỏi rằng:
- Sao ông lại dám gọi nó là con “Trời”?
Chủ nhà đáp:
- Con mèo của tôi quý hóa có một không hai. Gọi nó là con mèo thì không được. Phải gọi là con "Trời” mới xứng đáng, vì không ai hơn được “Trời”.
Ông khách hỏi:
- Thế mây chẳng che được trời là gì?
Chủ nhà bảo:
- Thế thì tôi gọi nó là con Mây!
Khách lại hỏi:
- Thế nhưng gió lại đuổi được mây!
Chủ nhà lại bảo:
- Thế thì gọi nó là con Gió!
- Thế nhưng thành lại cản được gió?
- Thì tôi gọi nó là con Thành.
- Thế nhưng chuột lại khoét được thành!
- Thế thì tôi gọi nó là con Chuột.
- Thế nhưng mèo lại bắt được chuột!
Chủ nhà nghĩ ngợi rồi bảo:
- Thì tôi lại cứ gọi nó là con Mèo như hôm trước vậy.
Ông khách vỗ tay cười:
- Thế có phải là “Mèo lại hoàn mèo” như câu tục ngữ ta vẫn thường nói không?
(Theo https://truyendangian.com)
Câu 1. Văn bản Mèo lại hoàn mèo thuộc thể loại gì?
A. Truyện cổ tích.
B. Truyện ngụ ngôn.
C. Thần thoại.
D. Truyền thuyết.
Câu 2. Văn bản Mèo lại hoàn mèo có những nhân vật nào?
A. Chủ nhà, ông khách, Gió, Mây.
C. Chủ nhà, ông khách, con mèo.
Câu 3. Trong văn bản Mèo lại hoàn mèo, con mèo được đặt tên theo thứ tự nào?
A. Trời, Mây, Gió, Thành, Mèo, Chuột.
C. Trời, Gió, Thành, Mèo, Chuột, Mây.
B. Mây, Gió, Thành, Mèo, Chuột, Mèo.
D. Trời, Mây, Gió, Thành, Chuột, Mèo.
Câu 4. Theo văn bản, tại sao chủ nhà lại đặt tên cho con mèo là “Trời”?
A. Vì thích tên gọi là “Trời”.
B. Vì nghĩ rằng không có tên gọi nào phù hợp hơn.
C. Vì nghĩ rằng con mèo của mình khôn ngoan, tài giỏi.
D. Vì cho rằng con mèo giống trời.
D. Con mèo, Thành, Mây, Gió.
Câu 5. Vì sao ông khách lại thắc mắc khi thấy chủ nhà gọi con mèo là con “Trời”?
A. Vì thấy tên gọi đó không đẹp.
B. Vì thấy tên gọi đó không đúng với lẽ tự nhiên.
C. Vì thấy chủ nhà quá khiêm tốn.
D. Vì thấy chủ nhà quá huênh hoang.
Câu 6. Theo em, tại sao ông khách lại liên tiếp phủ định những tên được đặt cho con mèo?
A. Vì muốn chủ nhà nhận ra sự vô lí trong việc đặt tên.
B. Vì thấy mấy tên đó không đẹp.
C. Vì muốn trêu đùa chủ nhà.
D. Vì muốn chủ nhà đặt tên theo cách của ông.
Câu 7. Qua văn bản, em thấy chủ nhà là người như thế nào?
Câu 8. Vì sao cuối cùng chủ nhà lại gọi tên là con Mèo?
Câu 9. Em rút ra được bài học gì sau khi đọc xong văn bản trên?
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (5 điểm)
Em hãy viết bài văn kể về sự việc liên quan đến một nhân vật lịch sử hoặc sự kiện lịch sử mà em yêu thích
Câu 2
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
Câu 1 | Câu 2 | Câu 3 | Câu 4 | Câu 5 | Câu 6 |
B | C | D | C | B | A |
Câu 1 (0.5 điểm)
Văn bản Mèo lại hoàn mèo thuộc thể loại gì? A. Truyện cổ tích. B. Truyện ngụ ngôn. C. Thần thoại. D. Truyền thuyết. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Truyện ngụ ngôn
=> Đáp án: B
Câu 2 (0.5 điểm)
Văn bản Mèo lại hoàn mèo có những nhân vật nào? A. Chủ nhà, ông khách, Gió, Mây. B. Trời, Mây, Thành, Gió C. Chủ nhà, ông khách, con mèo. D. Con mèo, Thành, Mây, Gió |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Các nhân vật gồm: chủ nhà, ông khách, con mèo
=> Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
Trong văn bản Mèo lại hoàn mèo, con mèo được đặt tên theo thứ tự nào? A. Trời, Mây, Gió, Thành, Mèo, Chuột. B. Mây, Gió, Thành, Mèo, Chuột, Mèo. C. Trời, Gió, Thành, Mèo, Chuột, Mây. D. Trời, Mây, Gió, Thành, Chuột, Mèo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Thứ tự đặt tên: Trời, Mây, Gió, Thành, Chuột, Mèo
=> Đáp án: D
Câu 4 (0.5 điểm)
Theo văn bản, tại sao chủ nhà lại đặt tên cho con mèo là “Trời”? A. Vì thích tên gọi là “Trời”. B. Vì nghĩ rằng không có tên gọi nào phù hợp hơn. C. Vì nghĩ rằng con mèo của mình khôn ngoan, tài giỏi. D. Vì cho rằng con mèo giống trời. D. Vì cho rằng con mèo giống người |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Vì nghĩ rằng con mèo của mình khôn ngoan, tài giỏi
=> Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
Vì sao ông khách lại thắc mắc khi thấy chủ nhà gọi con mèo là con “Trời”? A. Vì thấy tên gọi đó không đẹp. B. Vì thấy tên gọi đó không đúng với lẽ tự nhiên. C. Vì thấy chủ nhà quá khiêm tốn. D. Vì thấy chủ nhà quá huênh hoang. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Vì thấy tên gọi đó không đúng với lẽ tự nhiên
=> Đáp án: B
Câu 6 (0.5 điểm)
Theo em, tại sao ông khách lại liên tiếp phủ định những tên được đặt cho con mèo? A. Vì muốn chủ nhà nhận ra sự vô lí trong việc đặt tên. B. Vì thấy mấy tên đó không đẹp. C. Vì muốn trêu đùa chủ nhà. D. Vì muốn chủ nhà đặt tên theo cách của ông. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Vì muốn chủ nhà nhận ra sự vô lí trong việc đặt tên
=> Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
Qua văn bản, em thấy chủ nhà là người như thế nào? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
HS nhận xét được đặc điểm nhân vật chủ nhà trong truyện là người thiếu hiểu biết, có tầm nhìn hạn hẹp…
Câu 8 (0.5 điểm)
Vì sao cuối cùng chủ nhà lại gọi tên là con Mèo? |
Phương pháp:
Phân tích
Lời giải chi tiết:
Vì chủ nhà đã nhận ra sự vô lí khi gọi tên con vật không đúng với tên gọi của nó
Câu 9 (1.0 điểm)
Em rút ra được bài học gì sau khi đọc xong văn bản trên? |
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
VD: Mỗi người, mỗi vật nên biết đúng vị trí của mình, không nên thay đổi lẽ tự nhiên… hoặc cần biết lượng sức mình để có thái độ khiêm tốn, đúng mực trong cuộc sống…
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (5 điểm)
Em hãy viết bài văn kể về sự việc liên quan đến một nhân vật lịch sử hoặc sự kiện lịch sử mà em yêu thích. |
Phương pháp:
Căn cứ các bài học về văn tự sự, kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Về kỹ năng, hình thức:
- Học sinh viết đúng kiểu bài kể về nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
- Hành văn, diễn đạt trong sáng, kết cấu bài hoàn chỉnh, chặt chẽ. Không mắc lỗi thông thường về chính tả, ngữ pháp.
Về nội dung:
1. Mở bài: Giới thiệu về nhân vật muốn kể.
Ví dụ: Dân tộc Việt Nam trong quá khứ và hiện tại luôn rất anh hùng, dũng cảm, kiên trung xây dựng và bảo vệ đất nước. Có rất nhiều những tấm gương người anh hùng đã không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một người như vậy.
2. Thân bài: Kể lại những sự kiện.
Ví dụ:
- Kim Đồng là một người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu.
- Từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc.
- Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm trên đường làm nhiệm vụ.
- Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi.
- Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.
3. Kết bài: Suy nghĩ của người kể chuyện.
Ví dụ: Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ.
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11
Bài học Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 7, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 7, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi giữa kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 11 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 7 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.