Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9 (Môn Ngữ văn Lớp 4)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 4, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Tác giả đi bắt bướm ở đâu? Tác giả so sánh đàn bướm trắng giống như gì? Nội dung của bài đọc này là. Có thể thay từ “mặt nguyệt” trong câu: “Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ như trôi trong nắng.” Bằng từ nào sau đây? Trong câu văn: “Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn”. Một trong những tính từ ở câu trên là từ. Trong bài câu văn có nhiều từ láy là. Cho câu văn sau: “Chúng tôi tha thẩn bên bờ sông bắt bướm”. Câ
Đề bài
Phần I. Trắc nghiệm
Đọc:
Những cánh bướm bên bờ sông
Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn bên bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc. Con xanh biếc pha đen như nhung bay nhanh loang loáng. Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng. Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió, hệt như tàn than của những đám đốt nương. Còn lũ bướm vàng tươi xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông. Chúng cứ quấn quýt quanh màu vàng hoa cải và quanh những con đông tây xanh mọng nằm chờ đến lượt mình hóa bướm vàng.
(Vũ Tú Nam)
Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng
Câu 1: Tác giả đi bắt bướm ở đâu?
A. Trên bờ đê
B. Trong vườn rau
C. Bên bờ sông
D. Trong rừng
Câu 2: Tác giả so sánh đàn bướm trắng giống như gì?
A. Hoa nắng
B. Bông tuyết
C. Tàn than
D. Mặt nguyệt
Câu 3: Nội dung của bài đọc này là:
A. Tả cảnh bắt bướm của tác giả
B. Tả những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc
C. Tả cảnh đẹp bên bờ sông
D. Tả một chiều bên bờ sông
Câu 4: Có thể thay từ “mặt nguyệt” trong câu: “Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ như trôi trong nắng.” Bằng từ nào sau đây?
A. mặt nạ
B. mặt trời
C. mặt mũi
D. mặt trăng
Câu 5: Trong câu văn: “Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn”. Một trong những tính từ ở câu trên là từ:
A. bướm quạ
B. đôi mắt
C. dữ tợn
D. bàn tay
Câu 6: Trong bài câu văn có nhiều từ láy là:
A. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng
B. Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn
C. Còn lũ bướm vàng tươi xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông.
D. Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc
Câu 7: Cho câu văn sau: “Chúng tôi tha thẩn bên bờ sông bắt bướm”. Câu hỏi để tìm bộ phận chủ ngữ trong câu trên là:
A. Chúng tôi làm gì?
B. Ai tha thẩn bên bờ sông bắt bướm?
C. Ai bắt bướm bên bờ sông?
D.Ai tha thẩn bên bờ sông?
Phần II. Tự luận
Câu 1: Nhớ – viết:
Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.
Câu 2: Cho đoạn văn sau:
Con tê tê còn có tên gọi là con xuyên sơn. Vì người ta bảo con tê tê có thể đào thủng núi. Bộ vẩy của tê tê màu đen nhạt, rất giống vẩy cá gáy nhưng cứng và dày hơn nhiều. Bộ vẩy như một bộ giáp sắt che kín từ đầu xuống đến sát các ngón chân và tận mút chỏm.
a. Gạch dưới chân câu kể Ai thế nào? trong đoạn văn
b. Xác định chủ ngữ và vị ngữ trong những câu vừa tìm được
Câu 3: Phân loại các từ sau theo nghĩa của từ “tài”
tài ba, tài trợ, tài sản, tài năng, tài nguyên, tài nghệ, tài hoa, phát tài, tài đức, tài giỏi
Tài có nghĩa là “có khả năng hơn người bình thường” | Tài có nghĩa là “tiền của” |
Câu 4: Em hãy viết một bài văn tả một đồ dùng trong gia đình em.
-------- Hết --------
Đáp án
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
Phần I. Trắc nghiệm
[1 J2B| 3A | + [ 58 | 6c | 7A | 3A |
Câu 1: Tác giả đi bắt bướm ở đâu? A. Trên bờ đê B. Trong vườn rau C. Bên bờ sông D. Trong rừng |
Phương pháp:
Em đọc kĩ câu đầu tiên của bài đọc để chọn đáp án đúng nhất.
“Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn bên bờ sông bắt bướm.”
Cách giải:
Tác giả đi bắt bướm bên bờ sông.
Chọn C.
Câu 2: Tác giả so sánh đàn bướm trắng giống như gì? A. Hoa nắng B. Bông tuyết C. Tàn than D. Mặt nguyệt |
Phương pháp:
Em đọc kĩ câu văn sau để chọn đáp án đúng:
“Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng.”
Cách giải:
Tác giả so sánh đàn bướm trắng giống như hoa nắng.
Chọn A.
Câu 3: Nội dung của bài đọc này là: A. Tả cảnh bắt bướm của tác giả B. Tả những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc C. Tả cảnh đẹp bên bờ sông D. Tả một chiều bên bờ sông |
Phương pháp:
Em suy nghĩ và lựa chọn đáp án đúng nhất.
Cách giải:
Nội dung của bài đọc này là Tả những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc
Chọn B.
Câu 4: Có thể thay từ “mặt nguyệt” trong câu: “Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ như trôi trong nắng.” Bằng từ nào sau đây? A. mặt nạ B. mặt trời C. mặt mũi D. mặt trăng |
Phương pháp:
Em suy nghĩ và lựa chọn từ có nghĩa tương tự từ “mặt nguyệt” để thay thế.
Cách giải:
Có thể thay từ “mặt nguyệt” bằng từ “mặt trăng”
Chọn D.
Câu 5: Trong câu văn: “Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn”. Một trong những tính từ ở câu trên là từ: A. bướm quạ B. đôi mắt C. dữ tợn D. bàn tay |
Phương pháp:
Em đọc kĩ câu văn và các đáp án để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Tính từ trong câu trên là dữ tợn
Chọn C.
Câu 6: Trong bài câu văn có nhiều từ láy là: A. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng B. Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn C. Còn lũ bướm vàng tươi xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông. D. Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc |
Phương pháp:
Em đọc kĩ từng câu, xác định các từ láy có trong câu xem câu nào có nhiều từ láy nhất.
Cách giải:
Câu có nhiều từ láy nhất là: Còn lũ bướm vàng tươi xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông.
Chọn C.
Câu 7: Cho câu văn sau: “Chúng tôi tha thẩn bên bờ sông bắt bướm”. Câu hỏi để tìm bộ phận chủ ngữ trong câu trên là: A. Chúng tôi làm gì? B. Ai tha thẩn bên bờ sông bắt bướm? C. Ai bắt bướm bên bờ sông? D.Ai tha thẩn bên bờ sông? |
Phương pháp:
Em đọc kĩ câu văn và các đáp án để chọn đáp án đúng.
Cách giải:
Câu hỏi để tìm bộ phận chủ ngữ trong câu trên là: Ai tha thẩn bên bờ sông bắt bướm?
Chọn B.
Phần II. Tự luận
Câu 1: Nhớ – viết: Bài thơ về tiểu đội xe không kính Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái. |
Phương pháp:
Em viết đoạn văn vào vở, giấy kiểm tra
Cách giải:
Em chủ động hoàn thành bài chính tả.
Chú ý:
- Viết đúng chính tả
- Trình bày sạch đẹp
Câu 2: Cho đoạn văn sau: Con tê tê còn có tên gọi là con xuyên sơn. Vì người ta bảo con tê tê có thể đào thủng núi. Bộ vẩy của tê tê màu đen nhạt, rất giống vẩy cá gáy nhưng cứng và dày hơn nhiều. Bộ vẩy như một bộ giáp sắt che kín từ đầu xuống đến sát các ngón chân và tận mút chỏm. a. Gạch dưới chân câu kể Ai thế nào? trong đoạn văn b. Xác định chủ ngữ và vị ngữ trong những câu vừa tìm được |
Phương pháp:
a. Em tìm câu được viết theo kiểu Ai thế nào? và gạch chân dưới câu đó
b. Phân tích cấu tạo các câu mà em vừa tìm được
Cách giải:
a. Các câu kiểu Ai thế nào? là:
- Bộ vẩy của tê tê màu đen nhạt, rất giống vẩy cá gáy nhưng cứng và dày hơn nhiều.
- Bộ vẩy như một bộ giáp sắt che kín từ đầu đến sát các ngón chân và tận mút chỏm.
b.
[1 J2B| 3A | + [ 58 | 6c | 7A | 3A |
Câu 3: Phân loại các từ sau theo nghĩa của từ “tài” tài ba, tài trợ, tài sản, tài năng, tài nguyên, tài nghệ, tài hoa, phát tài, tài đức, tài giỏi
|
Phương pháp:
Em đọc kĩ các từ ngữ và xếp vào ô thích hợp.
Cách giải:
Tài có nghĩa là “có khả năng hơn người bình thường” | Tài có nghĩa là “tiền của” |
Tài ba, tài năng, tài nghệ, tài hoa, tài đức, tài giỏi | Tài trợ, tài sản, tài nguyên, phát tài |
| Câu 4: Em hãy viết một bài văn tả một đồ dùng trong gia đình em. |
Phương pháp:
Em dựa vào dàn ý sau để hoàn thành bài văn.
Mở bài: Giới thiệu về đồ vật
- Đồ vật em định tả là gì?
- Tại sao em (gia đình) có nó?
- Em (gia đình em) có nó từ khi nào?
Thân bài:
a. Tả bao quát
- Hình dáng
- Kích thước
- Màu sắc
b. Tả từng bộ phận của đồ vật
c. Công dụng
d. Kỉ niệm của em và gia đình với đồ vật đó
Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em với đồ vật
Cách giải:
Bài tham khảo 1: Tả chiếc xe đạp
Năm ngoái, mẹ em có bảo với em rằng là nếu em có thể đạt được học sinh giỏi thì mẹ em sẽ mua cho em một cái xe đạp riêng cho em. Em đã rất cố gắng để cuối năm đạt học sinh giỏi và mẹ đã mua cho em chiếc xe đạp
"Ôi chao! Sao chiếc xe đẹp đến vậy!" Tôi thốt lên thật to. Xe được khoác lên bộ quần áo màu hồng nhạt rất đẹp. Chiếc yên xe êm và rất thoải mái. Nó được mẹ em vặn kích cỡ vừa để cho em đạp xe. Từ yên có một thanh sắt nối ra đến đầu xe. Vành xe rất chắc chắn, bên tay trái là một chiếc chuông màu hồng. Chuông xe rất nhạy. Mỗi khi đi chỗ đông người em thường em thường ấn chiếc chuông kêu "Kính coong". Đầu xe là một chiếc giọ để em đựng đồ. Chiếc giọ này rất thuận tiện, em thường để cặp sách vào trong mỗi khi đến trường. Hai bánh xe của em có rất nhiều nan hoa được làm bằng sắt. Cái xe đạp của em có hai chỗ ngồi, một chỗ ngồi ở trước dành cho người đạp xe và chỗ ngồi dành cho người đi cùng. Em luôn để một cái khăn ở dưới yên xe. Cứ đến chủ nhật là em lại mang khăn ra lau chùi xe để nó luông được sạch sẽ.
Em rất quý chiếc xe đạp này. Vì chiếc xe này là một món quà đáng nhớ nhất của mẹ dành cho em và cũng vì sự hữu ích của nó. Em sẽ giữ gìn chiếc xe thật cẩn thận cũng như giữ gìn tình cảm của mẹ dành cho em.
Bài tham khảo 2: Tả chiếc ti vi
Ở giữa phòng khách nhà em là một chiếc tivi rất đẹp. Đó là món quà mà anh Hai em vừa mua nhân dịp Tết đến.
Đó là chiếc tivi hiệu SamSung đời mới, với vẻ ngoài sang trọng. Màn hình tivi có hình chữ nhật, dài chừng gần một mét rưỡi. Đặc biệt, màn hình chỉ dày khoảng hai đốt ngón tay mà thôi, khác hoàn toàn chiếc tivi cũ của nhà em. Khung tivi đen bóng, đến mức em có thể soi gương được. Ở phía dưới, là hai cái chân hình chữ V, cao khoảng 5cm để đỡ toàn bộ phần màn hình. Phía sau, là một cái dây cắm dài khoảng 1m, để cắm vào ổ điện. Bên cạnh là một số khe để kết nối tivi với máy tính, loa hoặc các thiết bị điện tử khác.
Khi mở tivi lên, em vô cùng ngạc nhiên. Vì hình ảnh và âm thanh quá sống động. Trên một màn hình to lớn, những bộ phim em từng xem trở nên tuyệt vời hơn rất nhiều. Đặc biệt, ngoài các kênh truyền hình thông thường, chiếc tivi này còn có thể kết nối internet để lên mạng, xem các chương trình khác mọi lúc nữa.
Em thích chiếc tivi mới của nhà mình lắm. Vậy là năm nay, cả nhà em sẽ cùng nhau xem chương trình Táo Quân bên chiếc tivi to và đẹp này.
Bài tham khảo 3: Tả chiếc tủ quần áo
Em có một chiếc tủ đựng quần áo rất xinh xắn. Chiếc tủ này đã gắn bó với em từ khi em còn rất nhỏ. Đến bây giờ, chiếc tủ vẫn được đặt trong góc phòng ngủ của em.
Chiếc tủ này chỉ cao chín mươi lăm phân, thấp hơn so với chiều cao của em một chút nhưng em thấy nó rất vừa vặn và hợp với phòng ngủ của em. Trên mặt tủ, em có đặt một khung ảnh gia đình và một cái đèn ngủ khiến cho chiếc tủ trông đẹp đẽ hơn. Viền trên và viền dưới của tủ được thiết kế theo hình lượn sóng khiến chiếc tủ khô cứng trở nên mềm mại.
Tủ quần áo tuy nhỏ bé như thế nhưng quan trọng hơn cả là nó rất hữu dụng. Chiếc tủ được chia làm hai phần. Phần bên trái của tủ là một ngăn treo quần áo. Ngăn này không có cánh tủ nên em dễ dàng lấy đồ mà không mất thời gian mở ra, đóng vào. Đích thân ông ngoại đã làm cho em những chiếc mắc xinh xắn vừa với tủ để em có thể treo chúng lên.
Bên phải của tủ là những ngăn kéo nhỏ dùng để đựng những món đồ nhỏ xinh. Mỗi ngăn kéo đều có 2 cánh tay cầm hình ngôi sao để em thuận tiện hơn trong việc mở tủ. Đối với em, ngăn tủ chính là một thế giới bí mật giúp em cất giữ những món đồ riêng của mình.
Mai sau, dù có lớn lên, chiếc tủ không còn đủ sức chứa những món đồ của em nữa thì em vẫn yêu mến chiếc tủ này và luôn luôn giữ gìn nó để nó trở thành vật hữu ích nhất.
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9
Bài học Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 4, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 4, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề số 9 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 4 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.