Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 (Môn Ngữ văn Lớp 4)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 4, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Tấm lòng thầm lặng Ngày nọ, bố tôi lái xe đưa ông chủ đi tham dự một buổi họp quan trọng tại một thành phố khác. Trong lúc nghỉ ở giữa đường, mấy cậu bé đang chơi quanh đấy hiếu kì kéo đến vây quanh, ngắm nghía và sờ mó chiếc xe sang trọng.
Đề bài
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.
II. Đọc thầm văn bản sau:
Tấm lòng thầm lặng
Ngày nọ, bố tôi lái xe đưa ông chủ đi tham dự một buổi họp quan trọng tại một thành phố khác. Trong lúc nghỉ ở giữa đường, mấy cậu bé đang chơi quanh đấy hiếu kì kéo đến vây quanh, ngắm nghía và sờ mó chiếc xe sang trọng. Thấy một cậu bé trong nhóm đi cà nhắc vì bị tật ở chân, ông chủ liền bước ra khỏi xe, đến chỗ cậu bé và hỏi:
- Cháu có muốn đôi chân được lành lặn bình thường không ?
- Chắc chắn là muốn ạ ! Nhưng sao ông lại hỏi cháu như thế ? - Cậu bé ngạc nhiên trước sự quan tâm của người xa lạ.
Chiều hôm đó, theo lời dặn của ông chủ, bố tôi đã đến gặp gia đình cậu bé có đôi chân tật nguyền ấy.
- Chào chị ! – Bố tôi lên tiếng trước. - Chị có phải là mẹ cháu Giêm-mi không? Tôi đến đây để xin phép chị cho chúng tôi đưa Giêm-mi đi phẫu thuật để đôi chân cháu trở lại bình thường.
- Thế điều kiện của ông là gì? Đời này chẳng có ai có gì cho không cả. - Mẹ Giêm-mi nghi ngờ nói.
Trong gần một tiếng đồng hồ sau đó, bố tôi kiên nhẫn giải thích mọi chuyện và trả lời mọi câu hỏi của hai vợ chồng. Cuối cùng, hai người đồng ý cho Giêm-mi phẫu thuật.
Kết quả cuối cùng hết sức tốt đẹp. Đôi chân Giêm-mi đã khoẻ mạnh và lành lặn trở lại. Giêm-mi kể cho bố tôi nghe ước mơ được trở thành doanh nhân thành công và sẽ giúp đỡ những người có hoàn cảnh không may mắn như cậu.
Về sau, cậu bé Giêm-mi may mắn ấy trở thành một nhà kinh doanh rất thành đạt như ước mơ của mình. Đến tận khi qua đời, theo tôi biết, Giêm-mi vẫn không biết ai là người đã giúp đỡ ông chữa bệnh hồi đó... Nhiều năm trôi qua, tôi luôn ghi nhớ lời ông chủ đã nói với bố tôi : "Cho đi mà không cần phải nhận lại sẽ là niềm vui lâu dài".
(Theo Bích Thủy)
Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:
Câu 1. Cậu bé trong câu chuyện gặp điều không may gì?
A. Bị tật ở chân
B. Bị ốm nặng
C. Bị khiếm thị
D. Bị khiếm thính
Câu 2. Ông chủ đã giúp đỡ cậu bé như thế nào?
A. Nhận cậu bé về làm con nuôi rồi chữa bệnh và cho cậu ăn học đàng hoàng.
B. Đến nhà và đích thân chữa bệnh cho cậu bé.
C. Cho người lái xe riêng đến thuyết phục cha mẹ cậu để ông được trả tiền chữa bệnh cho cậu bé.
D. Cho một số tiền lớn để cậu bé có vốn làm ăn buôn bán.
Câu 3. Vì sao ông chủ lại bảo người lái xe của mình làm việc đó?
A. Vì ông đang ở nước ngoài, chưa thể về nước được.
B. Vì ông không muốn gia đình người được giúp đỡ biết mình là ai.
C. Vì ông không có thời gian tới gặp họ.
D. Vì ông muốn nhận cháu bé làm con nuôi nhưng sợ bố mẹ cậu bé từ chối.
Câu 4. Cậu bé được ông chủ giúp đỡ đã trở thành một người như thế nào?
A. Trở thành một bác sĩ phẫu thuật vô cùng tài năng.
B. Trở thành một doanh nhân thành đạt và biết giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như mình.
C. Trở thành một nhà hảo tâm chuyên giúp đỡ những người gặp khó khăn trong cuộc sống.
D. Trở thành con nuôi của ông chủ và biết giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như mình.
Câu 5. Câu chuyện muốn nói với em điều gì?
Câu 6. Gạch dưới các động từ có trong đoạn văn sau:
Sau mấy lần ngã chỏng vó nằm trên nền đất đỏ lầy lội vì đường quá dốc và trơn, chúng tôi cũng đến được nơi các em đang ở. Đấy là những bản làng hẻo lánh, các hộ gia đình sống thành từng cụm.
Câu 7. Sử dụng biện pháp nhân hóa để viết lại câu dưới đây cho sinh động hơn:
“Đàn kiến tha mồi về tổ.”
B. Kiểm tra viết
Đề bài: Em hãy miêu tả con chó nhà em hoặc con chó nhà hàng xóm mà em biết.
-------- Hết --------
Lời giải
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM
1. A | 2. C | 3. B | 4. B |
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
II. Đọc thầm văn bản sau:
Câu 1. Cậu bé trong câu chuyện gặp điều không may gì?
A. Bị tật ở chân
B. Bị ốm nặng
C. Bị khiếm thị
D. Bị khiếm thính
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Cậu bé trong câu chuyện bị tật ở chân.
Đáp án A.
Câu 2. Ông chủ đã giúp đỡ cậu bé như thế nào?
A. Nhận cậu bé về làm con nuôi rồi chữa bệnh và cho cậu ăn học đàng hoàng.
B. Đến nhà và đích thân chữa bệnh cho cậu bé.
C. Cho người lái xe riêng đến thuyết phục cha mẹ cậu để ông được trả tiền chữa bệnh cho cậu bé.
D. Cho một số tiền lớn để cậu bé có vốn làm ăn buôn bán.
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Ông chủ giúp cậu đỡ cậu bé bằng cách cho người lái xe riêng đến thuyết phục cha mẹ cậu để ông được trả tiền chữa bệnh cho cậu bé.
Đáp án C.
Câu 3. Vì sao ông chủ lại bảo người lái xe của mình làm việc đó?
A. Vì ông đang ở nước ngoài, chưa thể về nước được.
B. Vì ông không muốn gia đình người được giúp đỡ biết mình là ai.
C. Vì ông không có thời gian tới gặp họ.
D. Vì ông muốn nhận cháu bé làm con nuôi nhưng sợ bố mẹ cậu bé từ chối.
Phương pháp giải:
Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Ông chủ bảo người lái xe của mình làm việc đó vì ông không muốn gia đình người được giúp đỡ biết mình là ai.
Đáp án B.
Câu 4. Cậu bé được ông chủ giúp đỡ đã trở thành một người như thế nào?
A. Trở thành một bác sĩ phẫu thuật vô cùng tài năng.
B. Trở thành một doanh nhân thành đạt và biết giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như mình.
C. Trở thành một nhà hảo tâm chuyên giúp đỡ những người gặp khó khăn trong cuộc sống.
D. Trở thành con nuôi của ông chủ và biết giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như mình.
Phương pháp giải:
Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Cậu bé được ông chủ giúp đỡ đã trở thành một doanh nhân thành đạt và biết giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khắn như mình.
Đáp án B.
Câu 5. Câu chuyện muốn nói với em điều gì?
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, suy nghĩ và trả lời.
Lời giải chi tiết:
Hãy giúp đỡ người khác một cách chân thành mà không cần đòi hỏi sự báo đáp. Cho đi mà không cần phải nhận lại sẽ là niềm vui lâu dài.
Câu 6. Gạch dưới các động từ có trong đoạn văn sau:
Sau mấy lần ngã chỏng vó nằm trên nền đất đỏ lầy lội vì đường quá dốc và trơn, chúng tôi cũng đến được nơi các em đang ở. Đấy là những bản làng hẻo lánh, các hộ gia đình sống thành từng cụm.
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài Động từ.
Lời giải chi tiết:
Sau mấy lần ngã chỏng vó nằm trên nền đất đỏ lầy lội vì đường quá dốc và trơn, chúng tôi cũng đến được nơi các em đang ở. Đấy là những bản làng hẻo lánh, các hộ gia đình sống thành từng cụm.
Câu 7. Sử dụng biện pháp nhân hóa để viết lại câu dưới đây cho sinh động hơn:
“Đàn kiến tha mồi về tổ.”
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài Biện pháp nhân hóa.
Lời giải chi tiết:
- Đàn kiến gọi nhau tha mồi về tổ.
B. Kiểm tra viết
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Bài viết đúng thể loại văn miêu tả con vật, viết đúng chính tả, câu văn đúng ngữ pháp.Trong bài viết biết sử dụng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, giàu cảm xúc, biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật đã học.
Gợi ý:
- Mở bài: Giới thiệu được con chó mà em muốn miêu tả.
- Thân bài: Tả từ bao quát đến chi tiết cụ thể:
+Tả đặc điểm hình dáng bên ngoài của con chó.
+Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con chó.
- Kết bài: Nêu được cảm nghĩ của bản thân về con chó mà mình tả.
Bài tham khảo 1:
Chủ nhật vừa qua, em về thăm nội. Em được nội cho một chú chó con rất đẹp.
Em đặt tên cho chó mới này là Pi-lu. Thế là từ hôm đó, Pi-lu ở với gia đình em. Ngày ngày, em chăm sóc rất chu đáo và ngắm nhìn chú không chán. Pi-lu mập mạp, bộ lông màu vàng sẫm. Bốn chân ngắn ngủn lại thêm bộ vuốt trắng ở bốn chân càng làm cho chú đáng yêu hơn. Mới chỉ mấy tuần tuổi, cái đầu của chú còn bé, trông như quả cam tròn trĩnh. Phía trên đầu là đôi tai bé tẹo như hai lá táo, lúc vểnh lên, lúc cụp xuống. Nổi bật trên chiếc đầu xinh xắn ấy là đôi mắt tròn xoe, sáng long lanh như hai hòn bi chai. Còn cais mũi của chú trông rất ngộ, mũi to bằng đầu ngón tay cái người lớn, luôn ươn ướt và mềm mại. Mỗi khi đòi ăn, cái mũi ấy khịt khịt, còn mồm thì há ra để lộ những chiếc răng nhỏ như răng chuột. Khi được cho ăn, chú ve vẩy cái đuôi ngắn của mình như tỏ vẻ mừng rỡ. Cũng cái đuôi ấy khi vui chú thường ngoe nguẩy. Còn lúc buồn, cái đuôi lại thõng xuống như đuôi bê.
Pi-lu thích được ăn ngon, ở sạch và thích được chủ vuốt ve. Mỗi lúc em đi học về, chú thường chạy ra tận cổng đón em, mừng tíu tít. Chú biết người quen kẻ lạ…Người thân của gia đình em đến, chú tỏ vẻ mừng rỡ. Còn người lạ, chú sủa vang cho đến lúc chủ bảo im. Pi-lu thật tình cảm với người nhưng cũng thật nghiêm khắc với lũ chuột. Chẳng con nào bén mảng đến, chú đuổi tới tấp, bọn chuột cũng kinh hồn bạt vía chẳng khác nào chạm trán với mấy chú mèo hàng xóm bên kia. Pi-lu cũng có ích đấy chứ, chú như một cảnh sát viên trong gia đình, biết trông nhà và nghe ngóng để bắt kẻ trộm. Chú thật khôn nên cả nhà ai cũng thích.
Với em, Pi-lu là một người bạn tâm tình. Mỗi khi ăn, em thường không quên chú. Em mong chú lớn nhanh và luôn có ích cho gia đình.
Bài tham khảo 2:
Nhà em là một khu trung cư nằm giữa lòng thành phố. Mặc dù em rất thích những vật nuôi nhỏ nhắn như chó, mèo nhưng mẹ em lại không cho nuôi. Chính vì thế một lần ra công viên thấy những chú chó được người ta dắt đi chơi em cảm thấy rất thích thú.
Em ấn tượng nhất là một chú chó có bộ lông trắng muốt và thân hình thì to mà có lẽ mình em ôm không xuể. Sau vài lần bắt gặp thì em biết được đó là chú chó mà nhà ở dưới tầng một của khu chung cư nhà em nuôi và cứ buổi chiều tối thì nhà cô ấy lại dắt nó ra công viên trước nhà để chơi. Nó có bộ lông rất dài và óng mượt. Chắc hẳn nó phải được chủ chăm sóc, tắm rửa thường xuyên mới được như vậy. Đôi tai bé xíu dường như bị chìm dưới lớp lông dài vậy. đôi mắt nó đen nhánh nổi bật trên nền trắng và cái mũi đen xì lúc nào cũng ươn ướt. Trời nóng hoặc lúc chơi đùa nó thường thè chiếc lưỡi dài màu hồng và nhìn thấy những chiếc răng nanh trắng. Chú chó ấy có bốn chân ngắn và bàn chân thì to, cái đuôi phía sau lông dài hơn và thường xuyên ve vẩy.
Đó là một con chó rất thân thiện. Khi gặp những người lạ nó không hề kêu hay cắn người. Có những bạn nhỏ hơn em còn chạy tới ôm cổ nó và nó không những để yên cho ôm mà còn còn chơi đùa cùng nữa. Có lần em còn được chạy lại và chụp ảnh cùng chú chó ấy.
Em rất yêu chó, chính vì thế những buổi chiều rảnh rỗi hoặc cuối tuần em thường ra công viên để chơi và ngắm những chú chó cảnh được mọi người dắt đi dạo.
Bài tham khảo 3:
Tết vừa rồi bố em đi công tác mang về cho em một chú chó nhỏ. Em đặt tên cho nó là Xù.
Xù khoảng năm tháng tuổi, thân hình nhỏ nhắn. Nó có bộ lông xù màu trắng tinh, tua tủa ra như những chiếc gai nhọn. Những sợi lông mềm mịn, êm dịu như nhung. Em rất thích ôm nó vào lòng và vuốt ve bộ lông mềm mại ấy! Bốn cái chân của Xù bé xíu. Bàn chân có bốn ngón, hai ngón giữa có hai cái vuốt nhỏ nhỏ để giúp nó có thể di chuyển dễ hơn. Xù có đôi mắt tròn xoe, long lanh như hai viên bi. Đôi mắt ấy rực sáng như hai đốm lửa trong bóng tối. Nó không chỉ có đôi mắt đẹp mà còn có cái mũi rất thính, đánh hơi rất tốt. Mũi của nó hơi to, màu đen, đôi lúc ươn ướt như mũi của con mèo. Mỗi lần em cho đồ ăn, nó thường dùng mũi để ngửi xem thử có cá hay không, nếu có cá nó sẽ ăn nhiều hơn. Bên dưới mũi là phần miệng. Miệng của nó nhô lên, hàm răng đều như bắp có hai cái răng nanh nho nhỏ. Nhờ hàm răng chắc khỏe ấy mà nó có thể ăn được bất cứ cái xương to nào.
Xù là một chú chó nhỏ nhưng rất lanh lợi lại thông minh, hiếu động, thích chạy nhảy. Tuy chân ngắn là thế nhưng chạy nhanh lắm. Mỗi khi em có việc ra ngoài Xù đều vẫy đuôi chạy vội theo em. Những buổi chiều rảnh rỗi em vẫn hay dẫn nó đi dạo quanh xóm. Hay lúc em đi học về, từ xa thấy em Xù đã vẫy đuôi và nhẹ nhàng đến gần sau đó phi ngay lên người cho em bế. Đôi khi buồn em cũng hay kể cho Xù nghe. Những khi ấy, nó ngồi im, hai chân sau khuỵu xuống, hai tai vểnh lên, mũi khịt khịt ngồi nghe em than thở. Nhìn nó lúc đó đáng yêu vô cùng!
Từ lâu Xù đã trở thành một thành viên trong gia đình em. Xù không chỉ làm bạn với em mà còn giữ nhà rất giỏi. Chỉ cần thấy bóng người lạ dù ban đêm hay ban ngày nó đều sủa thật to báo hiệu, đôi khi ngăn cản không cho người đó vào nhà. Bố em vẫn thường xoa đầu của nó và khen nó ngoan. Em rất yêu quý Xù, em hy vọng nó sẽ ở mãi bên em và cùng em lớn lên mỗi ngày!
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2
Bài học Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 4, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 4, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 4 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.