Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3

Tổng quan nội dung

Hướng Dẫn Giải: Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3 (Môn Ngữ văn Lớp 5)

Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 5, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.

Tiếng đồng quê Về mùa xuân, khi mưa phùn và sương sớm lẫn vào nhau không phân biệt được thì cây gạo ngoài cổng chùa, lối vào chợ quê, bắt đầu bật ra những đóa hoa đỏ hồng, làm sáng bừng lên một góc trời, tiếng đàn chim sáo về ríu rít như một cái chợ vừa mở, một lớp học vừa tan, một buổi liên hoan đàn ca sắp bắt đầu…

Đề bài

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.

II. Đọc thầm văn bản sau:

Tiếng đồng quê

Về mùa xuân, khi mưa phùn và sương sớm lẫn vào nhau không phân biệt được thì cây gạo ngoài cổng chùa, lối vào chợ quê, bắt đầu bật ra những đóa hoa đỏ hồng, làm sáng bừng lên một góc trời, tiếng đàn chim sáo về ríu rít như một cái chợ vừa mở, một lớp học vừa tan, một buổi liên hoan đàn ca sắp bắt đầu… Nghe nó mà xốn xang mãi không chán. Chúng chuyện trò râm ran, có lẽ mỗi con đều có chuyện riêng của mình giữ mãi trong lòng nay mới được thổ lộ cùng bạn bè, nên ai cũng nói, cũng lắm lời, bất chấp bạn có lắng nghe hay không.

Ngoài đê, ven ruộng ngô cánh bãi, xanh um một màu lá mướt của ngô xen đỗ xen cà, lại có tiếng chim khác. Nó khoan thai, dìu dặt như ngón tay thon thả búng vào dây đàn thập lục, nảy ra tiếng đồng tiếng thép lúc đầu vang to sau đó nhỏ dần rồi tắt lịm. Đó là con chim vít vịt. Nó cứ vang lên như tha thiết, gọi một người nào, mách một điều gì giữa bầu trời trong sáng vừa được rửa sạch sớm nay.

Khác thế bắt đầu nắng lên, tiếng con chim này mới khắc khoải làm sao. Nó thổn thức, da diết. Đó là con chim tu hú. Nó kêu cho nắng về, cho rặng vải ven sông chín đỏ, cho cái chua bay đi, niềm ngọt ở lại. Nó thèm khát cái gì nhỉ mà năm nào nó cũng phải gọi xa gọi gần thế ?

Con chào mào lích tích, chí chóe. Con sơn ca vút lên lảnh lót như có một sợi tơ nối giữa bầu trời và mặt đất, đó là tiếng hót không có gì có thể so sánh. Con diều hâu màu nâu lượn như một chiếc tàu lượn thể thao trong im lặng làm ớn lạnh cả đàn gà con. Còn cánh cò thì họa hoằn mới cất lên một tiếng thì dài vang tít vào vô tận, thẳm sâu, mà đôi cánh cứ chớp mãi không đuổi kịp.

Đồng quê yên ả. Đồng quê yêu thương. Có bao nhiêu là tiếng nói, tiếng gọi ta về sống lại một thời thơ ấu êm đềm, dù cho ta ở một phương trời nào xa lắc. Rồi ta tự lắng nghe trong lòng ta những tiếng đồng quê thân thương ấy cứ cất lên vô hình trong sâu thẳm tim ta… ôi khúc nhạc muôn đời. Tim ta ơi, phải thế không?

Theo Băng Sơn

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Tác giả miêu tả tiếng đồng quê vào mùa nào?

A. Mùa đông

B. Mùa xuân

C. Mùa thu

D. Mùa hè

Câu 2. Những âm thanh nào ở đồng quê được miêu tả trong bài?

A. Tiếng gà gáy vang mỗi sáng, tiếng học sinh ríu rít tan trường, tiếng đàn gà con líu ríu.

B. Tiếng mõ trâu lốc cốc về chuồng, tiếng chim sáo vi vu, tiếng thoi dệt vải lách cách.

C. Tiếng mấy bà đi chợ râm ran, tiếng học sinh ríu rít tan trường, tiếng đàn ca, tiếng, tiếng đàn gà con líu ríu.

D. Tiếng đàn chim sáo ríu rít, tiếng chim vịt khoan thai dìu dặt, tiếng chim tu hú khắc khoải, tiếng chào mào lích rích, tiếng sơn ca lảnh lót.

Câu 3. Tiếng chim sáo được miêu tả thế nào?

A. Tiếng hót vút lên lảnh lót như có sợi tơ nối bầu trời và mặt đất.

B. Tiếng khoan thai, dìu dặt như tiếng đàn.

C. Ríu rít như một cái chợ vừa mở, một lớp học vừa tan, một buổi liên hoan đàn ca sắp bắt đầu.

D. Như tiếng đồng, tiếng thép; lúc đầu vang to, sau nhỏ dần rồi tắt lịm.

Câu 4. Tiếng hót của chim tu hú gợi hình ảnh gì?

A. Ruộng ngô xanh um

B. Một phương trời xa lắc.

C. Nắng về, rặng vải ven sông chín đỏ.

D. Ruộng lúa chín vàng ruộm.

Câu 5. Em hãy cho biết đoạn cuối bài văn nói lên điều gì?

Câu 6. Nội dung của bài văn là gì?

A. Miêu tả vẻ đẹp của vùng quê vào buổi sáng mùa xuân ấm áp.

B. Miêu tả cánh đồng mùa xuân với những âm thanh quen thuộc.

C. Miêu tả bản làng vào ngày Tết.

D. Miêu tả tiếng hót của các loài chim vào mùa xuân.

Câu 7. Câu “Làng mạc bị tàn phá nhưng mảnh đất quê hương vẫn đủ sức nuôi sống tôi như ngày xưa, nếu tôi có ngày trở về.” có mấy vế câu?

A. Một vế câu

B. Hai vế câu

C. Ba vế câu

D. Bốn vế câu

Câu 8. Xác định thành phần chủ ngữ, vị ngữ trong các câu sau:

a. Con sơn ca vút lên lảnh lót như có một sợi tơ nối giữa bầu trời và mặt đất, đó là tiếng hót không có gì có thể so sánh.

b. Nó khoan thai, dìu dặt như ngón tay thon thả búng vào dây đàn thập lục.

Câu 9. Điền vế câu vào chỗ trống để hoàn thành câu ghép sau:

a. Vì trời rét đậm......................................................................................................................................

b. Nếu mọi người chấp hành tốt Luật giao thông .............................................................................................................................................

Câu 10. Đặt một câu có sử dụng dấu phẩy ngăn cách các vế trong câu ghép.

B. Kiểm tra viết

Đề bài: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về một câu chuyện mà em đã học trong sách Tiếng Việt 5.

-------- Hết --------

Lời giải

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. B

2. D

3. C

4. C

6. A

7. C

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Tác giả miêu tả tiếng đồng quê vào mùa nào?

A. Mùa đông

B. Mùa xuân

C. Mùa thu

D. Mùa hè

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Tác giả miêu tả tiếng đồng quê vào mùa xuân.

Đáp án B.

Câu 2. Những âm thanh nào ở đồng quê được miêu tả trong bài?

A. Tiếng gà gáy vang mỗi sáng, tiếng học sinh ríu rít tan trường, tiếng đàn gà con líu ríu.

B. Tiếng mõ trâu lốc cốc về chuồng, tiếng chim sáo vi vu, tiếng thoi dệt vải lách cách.

C. Tiếng mấy bà đi chợ râm ran, tiếng học sinh ríu rít tan trường, tiếng đàn ca, tiếng, tiếng đàn gà con líu ríu.

D. Tiếng đàn chim sáo ríu rít, tiếng chim vịt khoan thai dìu dặt, tiếng chim tu hú khắc khoải, tiếng chào mào lích rích, tiếng sơn ca lảnh lót.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn 1, 2, 3, 4 để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Những âm thanh ở đồng quê được miêu tả trong bài là tiếng đàn chim sáo ríu rít, tiếng chim vịt khoan thai dìu dặt, tiếng chim tu hú khắc khoải, tiếng chào mào lích rích, tiếng sơn ca lảnh lót.

Đáp án D.

Câu 3. Tiếng chim sáo được miêu tả thế nào?

A. Tiếng hót vút lên lảnh lót như có sợi tơ nối bầu trời và mặt đất.

B. Tiếng khoan thai, dìu dặt như tiếng đàn.

C. Ríu rít như một cái chợ vừa mở, một lớp học vừa tan, một buổi liên hoan đàn ca sắp bắt đầu.

D. Như tiếng đồng, tiếng thép; lúc đầu vang to, sau nhỏ dần rồi tắt lịm.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Tiếng chim sáo được miêu tả ríu rít như một cái chợ vừa mở, một lớp học vừa tan, một buổi liên hoan đàn ca sắp bắt đầu.

Đáp án C.

Câu 4. Tiếng hót của chim tu hú gợi hình ảnh gì?

A. Ruộng ngô xanh um

B. Một phương trời xa lắc.

C. Nắng về, rặng vải ven sông chín đỏ.

D. Ruộng lúa chín vàng ruộm.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ ba để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Tiếng hót của chim tu hú gợi hình ảnh nắng về, rặng vải ven sông chín đỏ.

Đáp án C.

Câu 5. Em hãy cho biết đoạn cuối bài văn nói lên điều gì?

Phương pháp giải:

Em cảm nhận được tình cảm gì của tác giả đối với quê hương.

Lời giải chi tiết:

Đoạn cuối bài nói về tình yêu, nỗi nhớ nhung tha thiết của tác giả đối với tiếng đồng quê.

Câu 6. Nội dung của bài văn là gì?

A. Miêu tả vẻ đẹp của vùng quê vào buổi sáng mùa xuân ấm áp.

B. Miêu tả cánh đồng mùa xuân với những âm thanh quen thuộc.

C. Miêu tả bản làng vào ngày Tết.

D. Miêu tả tiếng hót của các loài chim vào mùa xuân.

Phương pháp giải:

Em đọc cả bài xác định đối tượng được tác giả miêu tả là gì.

Lời giải chi tiết:

Nội dung của bài văn là miêu tả vẻ đẹp của vùng quê vào buổi sáng mùa xuân ấm áp.

Đáp án A.

Câu 7. Câu “Làng mạc bị tàn phá nhưng mảnh đất quê hương vẫn đủ sức nuôi sống tôi như ngày xưa, nếu tôi có ngày trở về.” có mấy vế câu?

A. Một vế câu

B. Hai vế câu

C. Ba vế câu

D. Bốn vế câu

Phương pháp giải:

Em xác định thành câu và vế câu.

Lời giải chi tiết:

Tôi (CN1) / rảo bước (VN1) và truyền đơn (CN2) / cứ từ từ rơi xuống đất (VN2).

Vậy câu có 2 vế câu.

Đáp án C.

Câu 8. Xác định thành phần chủ ngữ, vị ngữ trong các câu sau:

a. Con sơn ca vút lên lảnh lót như có một sợi tơ nối giữa bầu trời và mặt đất, đó là tiếng hót không có gì có thể so sánh.

b. Nó khoan thai, dìu dặt như ngón tay thon thả búng vào dây đàn thập lục.

Phương pháp giải:

Em nhớ lại các cách liên kết câu.

Lời giải chi tiết:

a. Con sơn ca (VN1) / vút lên lảnh lót như có một sợi tơ nối giữa bầu trời và mặt đất (VN1), đó là tiếng hót (CN2) / không có gì có thể so sánh (VN2).

b. Nó (CN) / khoan thai, dìu dặt như ngón tay thon thả búng vào dây đàn thập lục (VN).

Câu 9. Điền vế câu vào chỗ trống để hoàn thành câu ghép sau:

a. Vì trời rét đậm......................................................................................................................................

b. Nếu mọi người chấp hành tốt Luật giao thông .............................................................................................................................................

Phương pháp giải:

Em xác định nội dung vế câu và điền vế câu phù hợp.

Lời giải chi tiết:

a. Vì trời rét đậm nên cây cối trơ trụi.

b. Nếu mọi người chấp hành tốt Luật giao thông thì tai nạn giao thông sẽ giảm đi.

Câu 10. Đặt một câu có sử dụng dấu phẩy ngăn cách các vế trong câu ghép.

Phương pháp giải:

Em lưu ý hình thức câu ghép cần đặt.

Lời giải chi tiết:

- Trong giờ ra chơi, các bạn nam chơi đá cầu, các bạn nữ chơi nhảy dây.

- Trong khu vườn, những bông hoa thi nhau khoe sắc, những chú chim cùng nhau hót líu lo chào ngày mới. 

B. Kiểm tra viết

Phương pháp giải:

- Em xác định câu chuyện định nêu cảm nghĩ và lập dàn ý về đối tượng đó với bố cục 3 phần.

- Dựa trên dàn ý đã lập để viết đoạn văn hoàn chỉnh.

Lời giải chi tiết:

Dàn ý :

1. Mở đầu: Giới thiệu tên câu chuyện hoặc nêu ấn tượng chung của em về câu chuyện.

2. Triển khai:

- Chi tiết, hình ảnh khiến em ấn tượng là gì? Vì sao?

- Nhân vật em em yêu thích?

- Em học được gì qua câu chuyện?

3. Kết thúc: Suy nghĩ và cảm xúc của em về câu chuyện đó.

Bài tham khảo 1:

Câu chuyện về Thái sư Trần Thủ Độ là một trang sử hào hùng, là nguồn cảm hứng không ngừng và là bài học lịch sử sâu sắc. Trong tâm hồn của tôi, câu chuyện này không chỉ là một bức tranh về một nhà lãnh đạo kiệt xuất, mà còn là biểu tượng của lòng trung hiếu, lòng nhân ái, và sự dũng cảm đối diện với những khó khăn. Thái sư Trần Thủ Độ, với sự khôn khéo chiến lược và lòng trung hiếu sâu sắc, đã định hình và bảo vệ đất nước trước những thách thức lớn. Hình ảnh ông trong tâm trí tôi không chỉ là một người lãnh đạo xuất sắc mà còn là một người cha, người thầy kiệt xuất. Tâm huyết và niềm tin vào sứ mệnh bảo vệ triều đại của ông đã làm cho tôi tự hào về dòng họ Trần. Tôi cảm nhận rằng câu chuyện về Thái sư Trần Thủ Độ giúp chúng ta nhớ về những giá trị truyền thống và lòng tự tôn dân tộc. Ông không chỉ là người hùng trong cuộc chiến tranh, mà còn là biểu tượng của sự khôn ngoan và sự hi sinh vì lợi ích cộng đồng. Nhìn nhận về câu chuyện này, tôi tin rằng lịch sử Việt Nam là một nguồn lực tuyệt vời, đầy ắp những bài học quý báu về lòng yêu nước và truyền thống tốt đẹp. Câu chuyện về Thái sư Trần Thủ Độ là một phần không thể tách rời của văn hóa Việt Nam, và nó góp phần làm giàu tinh thần cộng đồng.

Bài tham khảo 2:

Câu chuyện “Cậu bé và con heo đất” đã để lại ấn tượng sâu sắc trong em. Em cảm thấy rất ngưỡng mộ Hải, một cậu bé biết tiết kiệm, biết quan tâm đến người khác và có lòng nhân ái. Hành động của Hải khi quyết định dùng tiền tiết kiệm để giúp đỡ những người bị thiên tai thật đáng khen ngợi. Điều đó đã giúp em hiểu rằng, dù chúng ta có ít hay nhiều, việc chia sẻ với những người khó khăn xung quanh là điều rất quý giá.

Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3

Bài học Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 5, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.

Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)

Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:

  • Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
  • Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 5, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
  • Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.

Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn

Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.

Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn

Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CD - Đề số 3 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 5 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.