Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2
Tổng quan nội dung
Hướng Dẫn Giải: Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2 (Môn Ngữ văn Lớp 5)
Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 5, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.
Cây trám đen Ở đầu bản tôi có mấy cây trám đen. Thân cây cao vút, thẳng như một cột nước từ trên trời rơi xuống. Cành cây mập mạp, nằm ngang, vươn toả như những gọng ô. Trên cái gọng ô ấy xoè tròn một chiếc ô xanh ngút ngát. Lá trám đen chỉ to bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang.
Đề bài
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.
II. Đọc thầm văn bản sau:
Cây trám đen
Ở đầu bản tôi có mấy cây trám đen. Thân cây cao vút, thẳng như một cột nước từ trên trời rơi xuống. Cành cây mập mạp, nằm ngang, vươn toả như những gọng ô. Trên cái gọng ô ấy xoè tròn một chiếc ô xanh ngút ngát. Lá trám đen chỉ to bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang.
Trám đen có hai loại: Quả trám đen tẻ chỉ bằng nửa quả nhót to, nhưng hai đầu nhọn hơn. Cùi trám đen tẻ mỏng, cứng, có phần hơi khô, xác, không ngon bằng trám đen nếp. Trám đen nếp cũng màu tím như trám đen tẻ, nhưng quả mập, mỡ màng, cùi dày, bấm ngập móng ngón tay cái mà không chạm hạt.
Cùi trám đen có chất béo, bùi và thơm. Trám đen rất ưa xào với tóp mỡ. Trám đen còn được dùng làm ô mai, phơi khô để ăn dần. Người miền núi rất thích món trám đen trộn với xôi hay cốm.
Chiều chiều, tôi thường ra đầu bản nhìn lên những vòm cây trám ngóng chim về. Người bản tôi nhìn lên cái ô xanh treo lơ lửng lưng trời ấy mà biết sức gió. Xa quê đã ngót chục năm trời, tôi vẫn nhớ da diết những cây trám đen ở đầu bản.
(Theo Vi Hồng, Hồ Thủy Giang)
Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:
Câu 1. Trám đen gồm những loại nào?
A. Trám đen tẻ và trám đen gạo.
B. Trám đen tẻ và trám đen nếp.
C. Trám đen nếp và trám đen dẻo.
D. Trám đen nếp và trám đen cốm.
Câu 2. Tác giả không miêu tả những bộ phận nào của cây trám đen?
A. thân cây
B. cành cây
C. lá cây
D. nụ hoa
Câu 3. Tích vào các chi tiết, hình ảnh miêu tả đặc điểm của quả trám đen nếp.
¨ quả mập, mở màng, cùi dày, bấm ngập móng ngón tay cái mà không chạm hạt
¨ chỉ bằng nửa quả nhót to, nhưng hai đầu nhọn hơn
¨ mỏng, cứng, có phần hơi khô, xác, không ngon
¨ cùi có chất béo, bùi và thơm
Câu 4. Nối đúng:
A | B | |
Thân cây | Mập mạp, nằm ngang, vươn toả như những gọng ô | |
Cành cây | To bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang | |
Lá cây | Cao vút, thẳng như cột nước từ trên trời rơi xuống |
Câu 5. Từ in đậm nào trong câu sau là tên nước ngoài đã viết sai quy tắc?
Tổng thống người Mỹ gốc phi đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ là Ba-rắc Ô-ha-ma.
Câu 6. Tìm câu văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả dành cho cây trám đen.
Câu 7. Hai câu văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?
Chiều chiều, tôi thường ra đầu bản nhìn lên những vòm cây trám ngóng chim về. Người bản tôi nhìn lên cái ô xanh treo lơ lửng lưng trời ấy mà biết được sức gió.
Câu 8. Trong các câu dưới đây, câu nào là câu ghép?
A. Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu đông.
B. Những chiếc lá lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ.
C. Mùa đông đến sớm, gió thổi từng cơn lạnh buốt.
D. Muôn hoa đua nở, khoe sắc rực rỡ trong vườn.
Câu 9.Xác định trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu sau:
a. Tiếng dương cầm vang lên êm ái trên căn gác nhỏ.
b. Nắng lên, nắng chan mỡ gà trên những cánh đồng chín.
Câu 10. Viết 2-3 câu miêu tả một loại quả mà em yêu thích. Trong đó có ít nhất hai câu văn liên kết với nhau bằng cách thay thế từ ngữ.
B. Kiểm tra viết
Đề bài: Viết đoạn văn nêu lí do em tán thành hay phản đối sự việc: Học sinh tiểu học tự đi bộ đi học.
-------- Hết --------
Lời giải
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM
1. B | 2. D | 8. C |
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
II. Đọc thầm văn bản sau:
Câu 1. Trám đen gồm những loại nào?
A. Trám đen tẻ và trám đen gạo.
B. Trám đen tẻ và trám đen nếp.
C. Trám đen nếp và trám đen dẻo.
D. Trám đen nếp và trám đen cốm.
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn thứ hai để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Trám đen gồm trám đen nếp và trám đen tẻ.
Đáp án B.
Câu 2. Tác giả không miêu tả những bộ phận nào của cây trám đen?
A. thân cây
B. cành cây
C. lá cây
D. nụ hoa
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Tác giả miêu tả thân cây, cành cây, lá cây nhưng không miêu tả nụ hoa.
Đáp án D.
Câu 3. Tích vào các chi tiết, hình ảnh miêu tả đặc điểm của quả trám đen nếp.
□ quả mập, mở màng, cùi dày, bấm ngập móng ngón tay cái mà không chạm hạt
□ chỉ bằng nửa quả nhót to, nhưng hai đầu nhọn hơn
□ mỏng, cứng, có phần hơi khô, xác, không ngon
□ cùi có chất béo, bùi và thơm
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn thứ hai và thứ ba để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Các chi tiết, hình ảnh miêu tả đặc điểm của quả trám đen nếp là:
- quả mập, mở màng, cùi dày, bấm ngập móng ngón tay cái mà không chạm hạt
- cùi có chất béo, bùi và thơm
Câu 4. Nối đúng:
A | B | |
Thân cây | Mập mạp, nằm ngang, vươn toả như những gọng ô | |
Cành cây | To bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang | |
Lá cây | Cao vút, thẳng như cột nước từ trên trời rơi xuống |
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn thứ nhất để nối đúng.
Lời giải chi tiết:
```html
Thân cây: Mập mạp, nằm ngang, vươn toả như những gọng ô.
Cành cây: Nuốm, bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang.
Lá cây: Cao vút, thẳng như cột nước từ trên trời rơi xuống.
``` Câu 5. Từ in đậm nào trong câu sau là tên nước ngoài đã viết sai quy tắc?Tổng thống người Mỹ gốc phi đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ là Ba-rắc Ô-ha-ma.
Phương pháp giải:
Em nhớ lại quy tắc viết tên riêng nước ngoài.
Lời giải chi tiết:
Tên nước ngoài viết sai quy tắc là “phi”.
Câu 6. Tìm câu văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả dành cho cây trám đen.
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn cuối tìm câu văn thể hiện tình cảm của tác giả.
Lời giải chi tiết:
Câu văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả dành cho cây trám đen là: “Xa quê đã ngót chục năm trời, tôi vẫn nhớ da diết những cây trám đen ở đầu bản.”.
Câu 7. Hai câu văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?
Chiều chiều, tôi thường ra đầu bản nhìn lên những vòm cây trám ngóng chim về. Người bản tôi nhìn lên cái ô xanh treo lơ lửng lưng trời ấy mà biết được sức gió.
Phương pháp giải:
Em nhớ lại các cách liên kết câu.
Lời giải chi tiết:
Hai câu văn được liên kết bằng cách thay thế từ ngữ. Cụm từ “cái ô xanh” ở câu thứ hai thay thế cho “những vòm cây trám” ở câu thứ nhất.
Câu 8. Trong các câu dưới đây, câu nào là câu ghép?
A. Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu đông.
B. Những chiếc lá lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ.
C. Mùa đông đến sớm, gió thổi từng cơn lạnh buốt.
D. Muôn hoa đua nở, khoe sắc rực rỡ trong vườn.
Phương pháp giải:
Em xác định thành phần câu, vế câu để tìm câu ghép.
Lời giải chi tiết:
Câu đơn:
- Ánh nắng ban mai (CN) / trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu đông (VN).
- Những chiếc lá (CN) / lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ (VN).
- Muôn hoa (CN) / đua nở, khoe sắc rực rỡ trong vườn (VN).
Câu ghép là: Mùa đông (CN1) / đến sớm (VN1), gió (CN2) / thổi từng cơn lạnh buốt (VN2).
Đáp án C.
Câu 9.Xác định trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu sau:
a. Tiếng dương cầm vang lên êm ái trên căn gác nhỏ.
b. Nắng lên, nắng chan mỡ gà trên những cánh đồng chín.
Phương pháp giải:
Em nhớ lại các xác định các thành phần trong câu.
Lời giải chi tiết:
a. Tiếng dương cầm (CN) / vang lên êm ái (VN) trên căn gác nhỏ (TN).
b. Nắng (CN1) / lên (VN1), nắng (CN2) / chan mỡ gà trên những cánh đồng chín (VN2).
Câu 10. Viết 2-3 câu miêu tả một loại quả mà em yêu thích. Trong đó có ít nhất hai câu văn liên kết với nhau bằng cách thay thế từ ngữ.
Phương pháp giải:
Em chọn một loại quả để tả và sử dụng liên kết câu bằng cách thay thế từ ngữ.
Lời giải chi tiết:
Quả vải là loại trái cây em rất yêu thích. Lớp vỏ ngoài của nó mỏng, khi bóc ra, bên trong là phần thịt trắng mọng nước.
Từ ngữ “nó” thay thế cho “quả vải”.
B. Kiểm tra viết
Phương pháp giải:
- Em xác định nhân vật định giới thiệu và lập dàn ý.
- Dựa trên dàn ý đã lập để viết đoạn văn.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý :
- Mở đầu: Giới thiệu hiện tượng. sự việc mà em muốn nêu ý kiến:
Đầu năm học mới, cùng với các vấn đề thường gặp, nhiều phụ huynh còn có chung một vấn đề mới có nhiều ý kiến khác nhau. Đó là liệu có nên để cho học sinh tiểu học tự đi bộ đến trường?
- Triển khai:
+ Khẳng định ý kiến tán thành hoặc không tán thành
Cá nhân em hoàn toàn ủng hộ việc các bạn học sinh tiểu học tự đi bộ đến trường.
+ Đưa ra các lí do để bảo vệ ý kiến
Thứ nhất, tự đi bộ đến trường giúp rèn luyện sức khỏe, sự dẻo dai
Thứ hai, tự đi bộ giúp học sinh rèn luyện tính tự lập, chủ động, tự giác, không phụ thuộc vào bố mẹ
Thứ ba, phụ huynh tiết kiệm thời gian đưa đón con đi học mỗi ngày
Thứ tư, học sinh có thể kết nhóm đi học cùng nhau, tăng tình đoàn kết…
+ Lưu ý:
- Chọn các lí do có tính thuyết phục. Có thể lấy thêm minh chứng từ thực tế ở trường, lớp mình.
- Sắp xếp các lí do theo một trinh tự hợp lí.
- Kết thúc: Bày tỏ suy nghĩ, mong muốn,... về hiện tượng, sự việc.
Bài tham khảo 1:
Em phản đối việc học sinh tiểu học tự đi bộ đi học. Đầu tiên, đây là vấn đề liên quan đến an toàn của học sinh, đặc biệt là trong môi trường đô thị đông đúc và nguy hiểm. Việc để trẻ em đi bộ một mình trên các con đường phố có thể tạo ra rủi ro về tai nạn giao thông, đặc biệt khi chúng chưa có đủ khả năng nhận biết và đánh giá nguy cơ. Thứ hai, việc học sinh tự đi bộ cũng có thể gây ra lo lắng và áp lực tâm lý không cần thiết cho phụ huynh. Cha mẹ luôn lo lắng về việc an toàn của con cái khi chúng phải tự đi bộ một mình, và điều này có thể ảnh hưởng đến sự tự tin và tinh thần tự lập của học sinh. Cuối cùng, có thể có những vấn đề về việc quản lý thời gian và đảm bảo đến trường đúng giờ. Học sinh có thể gặp phải khó khăn trong việc điều chỉnh thời gian và lập kế hoạch cho việc tự đi bộ đi học, gây ra sự bất tiện và mất mát về thời gian học tập. Với những lí do trên, việc phản đối việc học sinh tiểu học tự đi bộ đi học là cần thiết để đảm bảo an toàn, sự phát triển tâm lý và hiệu suất học tập của họ.
Bài tham khảo 2 :
Có ý kiến cho rằng "Học sinh tiểu học tự đi bộ đi học". Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến này. Trước hết, việc đi bộ đến trường sẽ giúp các em tính tự lập cho việc đi học đúng giờ. Việc tự đi bộ sẽ giúp các em rèn luyện được sự tự lập, trách nhiệm không bị lệ thuộc vào bố mẹ và cũng có tác động tích cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của các em. Và đặc biệt các bạn đi cùng nhau sẽ được trò chuyện vui vẻ với nhau trên hành trình đến lớp. Với em đây là một hoạt động nên được hưởng ứng và thực hiện bởi nhiều học sinh.
Bài tham khảo 3:
Việc học sinh tiểu học tự đi bộ đến trường là một đề xuất nên được áp dụng. Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến này. Vì em cho rằng đây là một giải pháp hợp lý giúp các em rèn luyện được nhiều kỹ năng quan trọng như tự lập, trách nhiệm và giao tiếp. Ngoài ra, còn tác dụng tích cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của các em. Vì những lợi ích thiết thực mà nó mang lại, những hoạt động này nên được các học sinh hưởng ứng.
Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2
Bài học Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 5, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.
Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)
Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:
- Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
- Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 5, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
- Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.
Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn
Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.
Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn
Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 2 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 5 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.