Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5

Tổng quan nội dung

Hướng Dẫn Giải: Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5 (Môn Ngữ văn Lớp 5)

Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 5, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.

Cây đề Ở một khúc quanh con đê, ngay ngã ba đầu làng, cạnh ngôi đền cổ, có một cây đề. Cây đề như vẫy gọi người xa, như vỗ về kẻ ở bằng màu xanh um tùm cao ngất với vô vàn lá hình tim. Lá đề không mọc ngang như lá đa mà cứ treo nghiêng hờ hững cho gió lách mình qua để rung lên niềm thanh thoát nhẹ nhàng, xao xuyến.

Đề bài

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.

II. Đọc thầm văn bản sau:

Cây đề

Ở một khúc quanh con đê, ngay ngã ba đầu làng, cạnh ngôi đền cổ, có một cây đề. Cây đề như vẫy gọi người xa, như vỗ về kẻ ở bằng màu xanh um tùm cao ngất với vô vàn lá hình tim. Lá đề không mọc ngang như lá đa mà cứ treo nghiêng hờ hững cho gió lách mình qua để rung lên niềm thanh thoát nhẹ nhàng, xao xuyến.

Mùa xuân khi đề ra lộc, hình như chúa xuân đã dát mỏng những tấm đồng điếu thành từng chiếc lá màu đỏ au hơi ánh tím. Phải nắng lên chói chang, lá đề mới xanh óng nuột nà. Cho đến khi đông sang, lá mới ngả màu nâu thẫm trước khi rơi về gốc mẹ lạnh lùng. Những chiếc lá đề cuối cùng còn sót lại vẫn treo nghiêng như để an ủi gốc cây vặn mình trong giá rét. Cho đến khi mưa xuân phủ tấm màn voan mỏng lên cây, lá đề ướt đẫm nước mắt trời không ai biết.

Cây đề thường cổ thụ. Gốc cây đề vừa là gốc vừa là rễ xoắn xuýt vào nhau, sừng sững vượt qua bão bùng mưa nắng bất chấp mọi ganh đua, chẳng màng đến niềm vui thông tục. Đền đài miếu mạo chính là chỗ cho cây đề gửi thân nương hồn như nhà tu hành đắc đạo. Trong tâm khảm người Việt Nam, cây đề không phải là kỷ niệm mà là niềm sùng kính. Đó cũng là cây mà Đức Phật Thích Ca đã ngồi thiền, đã giác ngộ, đã thành Đức Phật Tổ từ trên hai nghìn năm trăm năm nay. Vì thế, nó được chăm chút trong mỗi làng quê từ đời này sang đời khác, vững chắc, trường tồn.

Trên đất Thăng Long thời hiện đại, có biết bao nơi còn lưu giữ bóng đề, một thứ cây cổ tích, trầm tư suy ngẫm, một thứ cây reo reo rung động lòng người bằng muôn vàn trái tim đồng cảm trong gió mơn man. Đó cũng là chút hồn non nước lắng sâu trong mỗi chúng ta chăng?

(Băng Sơn)

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Cây đề được trồng ở đâu?

A. Ở một khúc quanh con đê, ngay ngã ba đầu làng, cạnh ngôi đền cổ.

B. Trong sân của đình làng.

C. Ngoài cổng làng.

D. Trên đường vào làng.

Câu 2. Lá đề có hình gì?

A. Hình tròn

B. Hình tim

C. Hình răng cưa

D. Hình lưỡi liềm

Câu 3.Cây đề ra lộc vào mùa nào?

A. Mùa xuân

B. Mùa hạ

C. Mùa thu

D. Mùa đông

Câu 4. Những màu sắc dùng để miêu tả lá đề là?

A. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, nuột nà

B. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, vàng ươm

C. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, lạnh lùng

D. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, nâu thẫm

Câu 5. Gốc cây đề có đặc điểm gì?

A. Có màu nâu thẫm, nhiều rễ

B. Mảnh mai, sần sùi

C. Vừa là gốc vừa là rễ xoắn xuýt vào nhau, sừng sững vượt qua bão bùng mưa nắng

D. Không có thông tin gì

Câu 6. Trong tâm khảm người Việt Nam, cây đề là gì?

A. Kỉ niệm tuổi thơ

B. Người bạn thân thiết

C. Biểu tượng của làng quê

D. Niềm sùng kính

Câu 7. Nội dung chính của bài đọc trên là gì?

Câu 8. Xác định thành phần câu của câu văn dưới đây:

Trong tâm khảm người Việt Nam, cây đề không phải là kỷ niệm mà là niềm sùng kính.

Câu văn trên là câu đơn hay câu ghép?

Câu 9. Cần thêm dấu gạch ngang vào vị trí nào để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích?

a. "Sáng Chủ nhật, chúng ta có buổi tham quan nông trại. Các em nhớ mang bút và sổ tay để ghi chép, chuẩn bị ý cho bài viết sắp tới nhé!" đó là thông báo của cô giáo chủ nhiệm từ buổi chiều thứ Năm. Lan háo hức lắm. Cô bé thấy thời gian trôi thật chậm, mãi mà không tới Chủ nhật.

b. Hà Nội thủ đô của đất nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh.

Câu 10. Các câu ghép sau nối với nhau bằng cách nào?

a. Trời mưa to, điện bị cúp, nhà tối om.

b. Chị em nấu cơm, kho cá còn em nhặt rau và quét nhà.

B. Kiểm tra viết

Đề bài: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về ngày hội thể thao được tổ chức ở trường em.

-------- Hết --------

Lời giải

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. A

2. B

3. A

4. D

5. C

6. D

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Cây đề được trồng ở đâu?

A. Ở một khúc quanh con đê, ngay ngã ba đầu làng, cạnh ngôi đền cổ.

B. Trong sân của đình làng.

C. Ngoài cổng làng.

D. Trên đường vào làng.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất của bài đọc để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Cây đề được trồng ở một khúc quanh con đê, ngay ngã ba đầu làng, cạnh ngôi đền cổ.

Đáp án A.

Câu 2. Lá đề có hình gì?

A. Hình tròn

B. Hình tim

C. Hình răng cưa

D. Hình lưỡi liềm

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất của bài đọc để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Lá đề có hình tim.

Đáp án B.

Câu 3.Cây đề ra lộc vào mùa nào?

A. Mùa xuân

B. Mùa hạ

C. Mùa thu

D. Mùa đông

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ hai của bài đọc để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Cây đề ra lộc vào mùa xuân.

Đáp án A.

Câu 4. Những màu sắc dùng để miêu tả lá đề là?

A. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, nuột nà

B. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, vàng ươm

C. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, lạnh lùng

D. Đỏ au, ánh tím, xanh óng, nâu thẫm

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ hai để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Những màu sắc dùng để miêu tả lá đề là: đỏ au, ánh tím, xanh óng, nâu thẫm.

Đáp án D.

Câu 5. Gốc cây đề có đặc điểm gì?

A. Có màu nâu thẫm, nhiều rễ

B. Mảnh mai, sần sùi

C. Vừa là gốc vừa là rễ xoắn xuýt vào nhau, sừng sững vượt qua bão bùng mưa nắng

D. Không có thông tin gì

Phương pháp giải:

Qua lời giải thích của chàng trai em hãy rút ra bài học.

Lời giải chi tiết:

Gốc cây đề vừa là gốc vừa là rễ xoắn xuýt vào nhau, sừng sững vượt qua bão bùng mưa nắng.

Đáp án C.

Câu 6. Trong tâm khảm người Việt Nam, cây đề là gì?

A. Kỉ niệm tuổi thơ

B. Người bạn thân thiết

C. Biểu tượng của làng quê

D. Niềm sùng kính

Phương pháp giải:

Em xác định thành phần câu, vế câu để tìm ra câu câu ghép.

Lời giải chi tiết:

Trong tâm khảm người Việt Nam, cây đề là niềm sùng kính.

Đáp án D.

Câu 7. Nội dung chính của bài đọc trên là gì?

Phương pháp giải:

Em đọc lại bài đọc xem tác giả giới thiệu về cái gì của cây đề.

Lời giải chi tiết:

Nội dung chính cảu bài đọc là giới thiệu về vẻ đẹp và giá trị của cây đề.

Câu 8. Xác định thành phần câu của câu văn dưới đây:

Trong tâm khảm người Việt Nam, cây đề không phải là kỷ niệm mà là niềm sùng kính.

Câu văn trên là câu đơn hay câu ghép?

Phương pháp giải:

Em xác định thành phần câu để xác định là câu đơn hay câu ghép.

Lời giải chi tiết:

Trong tâm khảm người Việt Nam (TN), cây đề (CN) / không phải là kỷ niệm mà là niềm sùng kính (VN).

Câu văn trên là câu đơn.

Câu 9. Cần thêm dấu gạch ngang vào vị trí nào để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích?

a. "Sáng Chủ nhật, chúng ta có buổi tham quan nông trại. Các em nhớ mang bút và sổ tay để ghi chép, chuẩn bị ý cho bài viết sắp tới nhé!" đó là thông báo của cô giáo chủ nhiệm từ buổi chiều thứ Năm. Lan háo hức lắm. Cô bé thấy thời gian trôi thật chậm, mãi mà không tới Chủ nhật.

b. Hà Nội thủ đô của đất nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh.

Phương pháp giải:

Em xác định cụm từ được chú thích, giải thích trong câu văn.

Lời giải chi tiết:

a. "Sáng Chủ nhật, chúng ta có buổi tham quan nông trại. Các em nhớ mang bút và sổ tay để ghi chép, chuẩn bị ý cho bài viết sắp tới nhé!" - đó là thông báo của cô giáo chủ nhiệm từ buổi chiều thứ Năm. Lan háo hức lắm. Cô bé thấy thời gian trôi thật chậm, mãi mà không tới Chủ nhật.

b. Hà Nội - thủ đô của đất nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh.

Câu 10. Các câu ghép sau nối với nhau bằng cách nào?

a. Trời mưa to, điện bị cúp, nhà tối om.

b. Chị em nấu cơm, kho cá còn em nhặt rau và quét nhà.

Phương pháp giải:

Em xác định các vế câu rồi chỉ ra cách nối các vế câu.

Lời giải chi tiết:

a. Vế câu 1: Trời mưa to

Vế câu 2: điện bị cúp

Vế câu 3: nhà tối om

Các vế câu được nối bằng dấu phẩy.

b. Vế câu 1: Chị em nấu cơm, kho cá

Vế câu 2: em nhặt rau và quét nhà

Các vế câu được nối với nhau bằng từ “còn”.

B. Kiểm tra viết

Phương pháp giải:

- Em xác định đối tượng thể hiện tình cảm, cảm xúc và lập dàn ý về đối tượng đó với bố cục 3 phần.

- Dựa trên dàn ý đã lập để viết đoạn văn.

Lời giải chi tiết:

Dàn ý :

- Mở đầu: Giới thiệu về sự việc

- Triển khai:

+ Không khí vui tươi, rộn ràng của Ngày hội thể thao

+ Một số hoạt động thể thao diễn ra trong hội thi (bóng đá, cầu lông, đá cầu, cờ vua,...) lôi cuốn người xem

+ Cảm xúc của em khi được chứng kiến sự việc đó.

- Kết thúc: Ý nghĩa của ngày hội đó.

Bài tham khảo 1:

Trong ngày hội thể thao của trường, từng khoảnh khắc đều in sâu trong tâm trí và lòng tự hào của em. Mỗi trận đấu, mỗi cuộc thi như là một màn trình diễn kỹ thuật và tinh thần dũng cảm mà mỗi em học sinh đều tự hào thể hiện. Khi nhìn thấy các bạn cùng lớp, cùng trường nỗ lực và chiến đấu hết mình trên sân cỏ, sân bóng, hay trong các cuộc thi vận động, em không khỏi cảm thấy xúc động và hạnh phúc. Mỗi lần nghe tiếng còi kết thúc trận đấu, mỗi khi thấy đồng đội của mình ghi bàn hoặc vượt qua đối thủ, trong em luôn bùng cháy lên một ngọn lửa đam mê và tự hào không nguôi. Những trò chơi nhóm như nhảy bao bố, kéo co hay đua thuyền trên cạn cũng mang lại cho em những trải nghiệm tuyệt vời và những kỷ niệm đáng nhớ. Khi cùng đồng đội vượt qua mọi thách thức, khi cảm nhận được sự đoàn kết và sự gắn bó, trong em luôn nảy sinh một cảm xúc tràn đầy niềm vui và sự hài lòng. Ngày hội thể thao không chỉ là một sự kiện thể thao, mà còn là dịp để em cảm nhận và trải nghiệm sự đoàn kết, tinh thần thể thao và tình bạn. Đó thực sự là một ngày tràn ngập cảm xúc và ấn tượng mà em sẽ luôn nhớ mãi.

Bài tham khảo 2 :

Ngày hội thể thao đã đến và em không thể giấu được sự phấn khởi trong lòng. Trường em trở nên rộn ràng và sôi động hơn bao giờ hết. Mọi người từ học sinh đến giáo viên, từ những người chơi thể thao đến những người hâm mộ, đều đang chờ đợi những trận đấu đầy kịch tính và những khoảnh khắc đáng nhớ. Trong không khí ngập tràn sự đoàn kết, em nhìn thấy những ánh mắt đầy tự tin của các vận động viên. Họ đã tập luyện và chuẩn bị từ rất lâu để có thể thể hiện hết khả năng của mình. Những trận cầu bóng đá hấp dẫn, những cuộc đua chạy nước rút đầy căng thẳng và những pha nhảy xa ngoạn mục trên sân đấu - tất cả đều tạo nên một không gian sống động và năng động. Không chỉ có những màn trình diễn thể thao mà còn những trò chơi nhóm vui nhộn và thú vị. Cười nắc nẻ và tiếng cười trẻ thơ vang lên khắp nơi. Ánh mắt của mọi người tràn đầy niềm vui và sự hào hứng. Đây không chỉ là một ngày để khẳng định sức mạnh cơ thể, mà còn là một dịp để tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ và gắn kết tình đoàn kết trong tâm hồn chúng ta. Ngày hội thể thao không chỉ là sự tranh tài, mà còn là cơ hội để chúng ta hòa mình vào không khí sôi động và khám phá những khả năng của bản thân. Nó là một sự kiện đặc biệt, nơi mà mọi người cùng nhau chia sẻ niềm vui, tạo ra những kỷ niệm và thể hiện tình yêu đối với thể thao và trường học. Khi ngày hội thể thao kết thúc, em nhìn quanh và cảm nhận một trái tim đầy hài lòng và biết ơn. Em biết rằng, không chỉ riêng em mà tất cả mọi người đã trải qua một ngày thật tuyệt vời và đáng nhớ.

Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5

Bài học Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 5, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.

Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)

Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:

  • Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
  • Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 5, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
  • Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.

Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn

Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.

Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn

Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 CTST - Đề số 5 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 5 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.