Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1

Tổng quan nội dung

Hướng Dẫn Giải: Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1 (Môn Ngữ văn Lớp 4)

Bạn đang theo dõi phần hướng dẫn giải chi tiết và chuyên sâu dành riêng cho bài học Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1. Đây là một nội dung học tập quan trọng nằm trong chương trình môn Ngữ văn của học sinh lớp 4, được trích xuất từ bộ SGK chuẩn . Trong bài học này, chúng tôi không chỉ cung cấp đáp án chính xác cho các câu hỏi phần lý thuyết, mà còn giải mã cặn kẽ từng bài tập tự luận và trắc nghiệm nằm ở cuối bài. Mỗi bước biến đổi công thức, mỗi luận điểm đưa ra đều được đội ngũ giáo viên phân tích rõ ràng, giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy và áp dụng thành thạo cho các dạng bài kiểm tra tương tự. Hãy cùng chuẩn bị vở nháp và theo dõi sát sao từng bước giải dưới đây để củng cố vững chắc kiến thức của bạn nhé.

Những chú chó con ở cửa hiệu Một cậu bé xuất hiện ở cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng: “Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác? ” Người chủ cửa hàng trả lời: “Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con.” Cậu bé rụt rè nói: “Cháu có thể xem chúng được không ạ?”

Đề bài

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.

II. Đọc thầm văn bản sau:

Những chú chó con ở cửa hiệu

Một cậu bé xuất hiện ở cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng: “Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác? ”

Người chủ cửa hàng trả lời: “Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con.”

Cậu bé rụt rè nói: “Cháu có thể xem chúng được không ạ?”

Người chủ cửa hàng mỉm cười rồi huýt sáo ra hiệu. Từ trong chiếc cũi, năm chú chó con bé xíu như năm cuộn len chạy ra, duy chỉ có một chú bị tụt lại phía sau khá xa. Ngay lập tức, cậu bé chú ý tới chú chó chậm chạp, hơi khập khiễng đó. Cậu liền hỏi: “Con chó này bị sao vậy bác?”

Ông chủ giải thích rằng nó bị tật ở khớp hông và nó sẽ bị khập khiễng suốt đời. Nghe thế, cậu bé tỏ ra xúc động: “Đó chính là con chó cháu muốn mua.”

Chủ cửa hàng nói: “Nếu cháu thực sự thích con chó đó, ta sẽ tặng cho cháu. Nhưng ta biết cháu sẽ không muốn mua nó đâu.”

Gương mặt cậu bé thoáng buồn, cậu nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng và nói: “Cháu không muốn bác tặng nó cho cháu đâu. Con chó đó cũng có giá trị như những con chó khác mà. Cháu sẽ trả bác đúng giá. Thực ra ngay bây giờ cháu chỉ có thể trả bác 2 đô la 37 xu thôi. Sau đó, mỗi tháng cháu sẽ trả dần bác 50 xu được không ạ?”

– Bác bảo thật nhé, cháu không nên mua con chó đó! – Người chủ cửa hàng khuyên. – Nó không bao giờ có thể chạy nhảy và chơi đùa như những con chó khác được đâu.

Ông vừa dứt lời, cậu bé liền cúi xuống vén ống quần lên, để lộ ra cái chân trái tật nguyền, cong vẹo được đỡ bằng một thanh kim loại. Cậu ngước nhìn ông chủ cửa hàng và khẽ bảo: “Chính cháu cũng chẳng chạy nhảy được mà, và chú chó con này sẽ cần một ai đó hiểu và chơi với nó.”

Đăn-Clát

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Cậu bé khách hàng chú ý đến con chó nào?

A. Chú chó con lông trắng muốt.

B. Chú chó con bé xíu như cuộn len.

C. Chú chó con chậm chạp, hơi khập khiễng.

D. Chú chó lớn, nhanh nhẹn nhất đàn.

Câu 2. Vì sao cậu bé không muốn người bán hàng tặng con chó đó cho cậu?

A. Vì con chó đó bị tật ở chân.

B. Vì cậu cho rằng con chó đó cũng có giá trị ngang bằng những con chó mạnh khỏe khác trong cửa hàng.

C. Vì cậu không muốn mang ơn người bán hàng.

D. Vì cậu bé không thiếu tiền.

Câu 3. Câu chuyện muốn nói với em điều gì?

A. Hãy yêu thương chú chó bị tật ở chân.

B. Hãy đối xử bình đẳng với người khuyết tật.

C. Hãy nhận nuôi những chú chó khuyết tật.

D. Hãy chia sẻ và đồng cảm với người khuyết tật.

Câu 4. Tìm câu chủ đề trong đoạn văn dưới đây và cho biết vị trí của câu chủ đề đó:

Yết Kiêu là một người có tài bơi lặn. Nghe tin quân Nguyên xâm lược đất Việt, ông xin nhà vua cho ra trận chỉ với vũ khí là búa và dùi sắt để giết giặc. Một lần, khi đục thuyền giặc, ông bị chúng bắt. Ông nhanh trí vờ dẫn địch đi bắt người đục thuyền, rồi nhân lúc chúng sơ ý, ông nhảy xuống biển sâu trốn thoát.

Câu 5. Gạch chân vào trạng ngữ của câu văn sau và cho biết trạng ngữ đó bổ thông tin gì cho câu:

Sớm sớm, từng đàn chim gáy sà xuống những thửa ruộng vừa gặt quang.

Câu 6. Đặt 1 câu có trạng ngữ chỉ mục đích hoặc nguyên nhân và gạch chân dưới trạng ngữ đó.

Câu 7. Xác định chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu dưới đây:

a. Chim gáy tha thẩn, nhặt nhạnh cặm cụi sau người mót lúa.

b. Con chim gáy hiền lành, béo núc.

c. Những người lính và viên tướng đứng sững lại, nhìn chú lính nhỏ.

B. Kiểm tra viết

Đề bài: Viết bài văn tả một con vật nôi trong vườn thú.

-------- Hết --------

Lời giải

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. C

2. B

3. D

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Cậu bé khách hàng chú ý đến con chó nào?

A. Chú chó con lông trắng muốt.

B. Chú chó con bé xíu như cuộn len.

C. Chú chó con chậm chạp, hơi khập khiễng.

D. Chú chó lớn, nhanh nhẹn nhất đàn.

Phương pháp giải:

Em đọc từ đầu đến “sao vậy bác?” để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Cậu bé khách hàng chú ý đến con chó con chậm chạp, hơi khập khiễng.

Đáp án C.

Câu 2. Vì sao cậu bé không muốn người bán hàng tặng con chó đó cho cậu?

A. Vì con chó đó bị tật ở chân.

B. Vì cậu cho rằng con chó đó cũng có giá trị ngang bằng những con chó mạnh khỏe khác trong cửa hàng.

C. Vì cậu không muốn mang ơn người bán hàng.

D. Vì cậu bé không thiếu tiền.

Phương pháp giải:

Em đọc từ “gương mặt cậu bé thoáng buồn” đến “những con chó khác được đâu” để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Cậu bé không muốn người bán hàng tặng con chó đó vì cậu cho rằng con chó đó cũng có giá trị ngang bằng những con chó mạnh khỏe khác trong cửa hàng.

Đáp án B.

Câu 3. Câu chuyện muốn nói với em điều gì?

A. Hãy yêu thương chú chó bị tật ở chân.

B. Hãy đối xử bình đẳng với người khuyết tật.

C. Hãy nhận nuôi những chú chó khuyết tật.

D. Hãy chia sẻ và đồng cảm với người khuyết tật.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn cuối để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Câu chuyện muốn nói với em rằng Hãy chia sẻ và đồng cảm với người khuyết tật.

Đáp án D.

Câu 4. Tìm câu chủ đề trong đoạn văn dưới đây và cho biết vị trí của câu chủ đề đó:

Yết Kiêu là một người có tài bơi lặn. Nghe tin quân Nguyên xâm lược đất Việt, ông xin nhà vua cho ra trận chỉ với vũ khí là búa và dùi sắt để giết giặc. Một lần, khi đục thuyền giặc, ông bị chúng bắt. Ông nhanh trí vờ dẫn địch đi bắt người đục thuyền, rồi nhân lúc chúng sơ ý, ông nhảy xuống biển sâu trốn thoát.

Phương pháp giải:

Em xác định nội dung đoạn văn, tìm câu chủ đề nói về đối tượng của đoạn văn.

Lời giải chi tiết:

Câu chủ đề: Yết Kiêu là một người có tài bơi lặn.

Câu chủ đề nằm ở đầu đoạn văn.

Câu 5. Gạch chân vào trạng ngữ của câu văn sau và cho biết trạng ngữ đó bổ thông tin gì cho câu:

Sớm sớm, từng đàn chim gáy sà xuống những thửa ruộng vừa gặt quang.

Phương pháp giải:

Em xác định thành phần câu và trạng ngữ bổ sung thông tin gì.

Lời giải chi tiết:

Sớm sớm, từng đàn chim gáy sà xuống những thửa ruộng vừa gặt quang.

- Trạng ngữ trong câu trên bổ sung thông tin về thời gian.

Câu 6. Đặt 1 câu có trạng ngữ chỉ mục đích hoặc nguyên nhân và gạch chân dưới trạng ngữ đó.

Phương pháp giải:

Em lựa chọn trạng ngữ chỉ mục đích hoặc nguyên nhân rồi đặt câu cho phù hợp.

Lời giải chi tiết:

Vì xe bị hỏng, Hoa đã đi bộ đến trường.

Câu 7. Xác định chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu dưới đây:

a. Chim gáy tha thẩn, nhặt nhạnh cặm cụi sau người mót lúa.

b. Con chim gáy hiền lành, béo núc.

c. Những người lính và viên tướng đứng sững lại, nhìn chú lính nhỏ.

Phương pháp giải:

Em nhớ lại kiến thức về hai thành phần chính của câu để xác định chủ ngữ, vị ngữ.

Lời giải chi tiết:

a. Chim gáy (CN) / tha thẩn, nhặt nhạnh cặm cụi sau người mót lúa (VN).

b. Con chim gáy (CN) / hiền lành, béo núc (VN).

c. Những người lính và viên tướng (CN) / đứng sững lại, nhìn chú lính nhỏ (VN).

B. Kiểm tra viết

Phương pháp giải:

Em xác định đối tượng cần miêu tả của đề bài rồi lập dàn ý.

Dựa vào dàn ý để viết bài văn hoàn chỉnh.

Lời giải chi tiết:

Dàn ý:

1. Mở bài: Giới thiệu về con vật nuôi trong vườn thú mà em muốn miêu tả:

- Con vật đó thuộc loài nào? Là con đực hay con cái? Có tên gọi cụ thể không?

- Con vật đó sống một mình hay sống theo đàn? Có được khách tham quan yêu mến không?

2. Thân bài:

- Miêu tả ngoại hình của con vật:

+ Con vật đó có chiều cao, cân nặng bao nhiêu? Tổng quan dáng vóc của con vật trông như thế nào?

+ Bộ lông/Lớp da/Lớp vảy của con vật có đặc điểm như thế nào về độ dày, màu sắc? Đó là đặc điểm chung của loài đó hay chỉ con vật đó mới có?

+ Phần đầu của con vật có kích thước như thế nào? Các bộ phận trên đầu nó có đặc điểm ra sao? Bộ phận nào là nổi bật nhất (sừng, hàm răng, đôi tai…)

+ Con vật có chân/đuôi/cánh có đặc điểm gì? Đặc điểm đó có tác dụng gì đối với con vật đó?

- Miêu tả hoạt động của con vật:

+ Khi em đến tham quan, con vật đang làm gì? Trông nó lúc đó có vui vẻ, thoải mái không?

+ Hoạt động đó có phải điều con vật hay làm trong ngày nhất không?

+ Khi phát hiện có khách tham quan đứng sát hàng rào/lồng kính, con vật có phản ứng như thế nào?

+ Con vật có tương tác qua lại với khách tham quan không? Phản ứng của mọi người lúc đó như thế nào?

3. Kết bài:

- Nêu tình cảm, cảm xúc của em dành cho con vật mà mình vừa miêu tả.

- Nêu những mong ước tốt đẹp của em dành cho con vật đó.

Bài tham khảo 1:

Trong kì thi vừa rồi em được điểm cao nên bố mẹ đã thưởng cho em một chuyến đi chơi thăm vườn bách thú. Sau khi được ngắm nghía rất nhiều loài vật lạ, em được đến trước chuồng của một chú hươu cao cổ. Lần đầu tiên nhìn thấy loài vật này trong lòng em đã cảm thấy vô cùng thích thú.

Thân hươu cao to, bốn chân dài nhưng không dài bằng cái cổ của chú. Cái cổ dài, đặc biệt giúp chú ăn được thức ăn trên những cành cây cao hay vươn hẳn ra ngoài để làm quen với các bạn nhỏ. Cả thân hình khoác lên một bộ lông màu vàng xen lẫn những đốm nâu, nhưng chân thì không có những đốm ấy. Đầu chú nhỏ, bên trên có hai cái tai bé bé xinh xinh. Miệng thì nhỏ so với thân hình nhưng lưỡi chú lại rất dài. Cặp mắt đen đen to như hai quả chanh, luôn nhìn mọi người thật hiền lành. Cái đuôi hươu đen, dài đến khuỷu chân.

Chú hươu lúc đứng vươn cao với cái cổ dài kiêu hãnh, lúc thì cúi xuống dụi dụi đầu vào vai người tham quan, hay há miệng nhận đồ ăn của các em nhỏ. Tuy có dáng hình to lớn nhưng chú lại rất hiền lành, thân thiện với mọi người. Bên cạnh chuồng người quản lý đã cố tình trồng một cây xanh rất cao to để làm thức ăn cho hươu, bởi tuy thân hình to lớn nhưng hươu lại rất hiền và chỉ là động vật ăn cỏ. Nhìn chú hươu ăn trông đến là hay. Chú đưa miệng vào gần những khóm lá xanh gần nhất rồi há miệng ra ngoạm lấy, ngẩng cổ lên để cố giựt những chiếc lá đưa vào miệng rồi điềm tĩnh nhai như vừa ăn vừa thưởng thức những món ăn yêu thích của mình. Trong chuồng có hai chú hươu mẹ, một hươu con. Chú hươu con xinh xinh chắc chỉ bé bằng một nửa hươu mẹ. Vì còn bé nên chú hươu con chưa thể với lên cao để ăn lá, bởi vậy mà hươu mẹ ăn xong thì mớm lá cho con. Chú hươu mẹ giựt những chiếc lá rồi thả xuống, hươu con nhìn thấy đồ ăn thì chạy lại ăn một cách ngon lành. Cảnh tượng ấy đã chạm vào những suy nghĩ của em làm em nhớ đến tận bây giờ. Có lẽ loài vật cũng biết yêu thương, chăm lo và có tình cảm giống như con người. Vậy những hành động săn bắn thú hoang liệu có phải đã đến lúc nên dừng lại việc săn bắn thú hoang trái phép hay không?

Em sẽ nhớ mãi hình ảnh chú hươu trong buổi đi tham quan hôm nay, bởi em yêu vẻ đẹp hiền lành của nó.

Bài tham khảo 2:

Cứ cuối tuần là em được bố và mẹ cho đi công viên chơi. Ở đó em được vui chơi thoả thích, được ngắm nhìn những con vật kì lạ. Đặc biệt là em thích thú với chú voi có tuổi ở đó.

Chà, chú mới to làm sao! Mẹ nói chú phải nặng đến vài tấn chứ chẳng chơi. Nhìn chú mà em tưởng tượng ra cả một toà nhà lớn. Bốn cái chân to lớn như cái cột đình. Còn cái tai thì chẳng khác gì một cái quạt lúc nào cũng phe phẩy. Thích nhất là chiếc vòi dài, càng về đỉnh lại càng nhỏ đi và có nhiều vòng tròn rất đều nhau. Mõm nép dưới cái vòi to tướng, nhìn sơ qua khó mà có thể thấy được. Hai chiếc răng nanh sắc nhọn, cong cong hình con tôm, chìa ra khỏi hàm răng, trông thật giống một con ác thú. Chú có cái đuôi dài thượt, dẻo như chiếc roi mây của cô em. Cùng với thân hình vạm vỡ, tròn tròn, nước da nhăn nheo, tựa như màu đất bùn ở những đồng ruộng xâm xấp nước đưa lên.

Cái kiểu chú ăn trông thật kì lạ. Đầu tiên, chú gắp thức ăn lên. Dùng vòi cuộn tròn lại rồi quăng tuột vào mồm. Chiếc vòi hữu ích ấy còn giúp chú làm được nhiều việc nữa cơ, chẳng hạn: “Bắt tay, chào người lớn…”

Mỗi lần ra về em lại có cảm giác nuối tiếc. Cuộc vui nào rồi cũng phải tàn, em chia tay chú mà lòng buồn rười rượi. Mẹ nói nếu em cứ học tập tốt rồi tuần nào mẹ cũng đưa đi chơi vườn bách thú, nô đùa với chú voi to lớn và thật dễ thương.

Trọng Tâm Kiến Thức Cần Nắm Trong Bài Học Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1

Bài học Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1 mang đến những khái niệm mới có tính bản lề, đóng vai trò kết nối kiến thức của chương trước và mở ra tư duy cho những bài học tiếp theo trong môn Ngữ văn. Đối với học sinh lớp 4, việc vượt qua những rào cản nhận thức ban đầu là vô cùng quan trọng. Trước khi bắt tay vào giải bài tập phần "Vận dụng", học sinh cần phải thực sự hiểu rõ và ghi nhớ các định nghĩa, định lý hay các quy luật xã hội đã được trình bày trong sách . Đội ngũ biên soạn của chúng tôi đã cẩn thận tổng hợp lại những điểm mù kiến thức mà học sinh thường hay nhầm lẫn nhất ở phần đầu của lời giải. Bằng cách ôn tập lại lý thuyết thông qua phần tóm tắt này, bạn sẽ xây dựng được một nền móng vững chãi, từ đó việc giải quyết các câu hỏi thực hành phức tạp phía sau sẽ trở nên nhẹ nhàng và logic hơn rất nhiều.

Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bước Giải Bài Tập (Step-by-step Solution)

Sự khác biệt lớn nhất của một bài hướng dẫn giải chuẩn mực so với một cuốn sách bài giải thông thường trên thị trường chính là tính tương tác và độ chi tiết. Đối với các câu hỏi trong bài Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1, chúng tôi áp dụng mô hình phân tích 3 bước (3-Step Analysis) vô cùng chặt chẽ:

  • Bước 1 - Khai thác giả thiết: Phân tích đề bài xem đề bài đã cho chúng ta những dữ kiện định lượng/định tính nào. Việc tóm tắt đề bài một cách khoa học giúp loại bỏ các thông tin nhiễu không cần thiết.
  • Bước 2 - Lựa chọn công cụ giải (Phương pháp): Dựa vào đặc điểm của môn Ngữ văn lớp 4, chúng tôi sẽ chỉ ra rõ tại sao lại sử dụng công thức này mà không dùng công thức khác, hay tại sao lại phải phân tích vấn đề theo hướng này.
  • Bước 3 - Triển khai và Biện luận kết quả: Trình bày chi tiết từng dòng tính toán, từng câu lập luận để đi đến kết quả cuối cùng. Đặc biệt, chúng tôi luôn có phần kiểm tra lại (check) để chắc chắn kết quả tìm được thỏa mãn điều kiện bài toán.

Gợi Ý Các Mẹo Giải Nhanh Và Mở Rộng Kiến Thức Thực Tiễn

Sau khi đã nắm vững phương pháp giải bài bản, tự luận, học sinh cần được rèn luyện thêm các kỹ năng xử lý tình huống nhanh để phục vụ cho các bài thi trắc nghiệm khách quan. Trong phần mở rộng của bài Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1, chúng tôi thường xuyên cung cấp các "mẹo" (tips) hoặc công thức tính nhẩm nhanh, hướng dẫn bấm máy tính cầm tay (Casio) cực kỳ hữu ích. Hơn nữa, vì bộ sách luôn đề cao triết lý "mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc sống", các giáo viên của chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ kết quả của bài toán, bài văn với những hiện tượng thực tiễn xảy ra xung quanh chúng ta. Việc mở rộng kiến thức này không chỉ thỏa mãn sự tò mò của những học sinh khá giỏi, mà còn nuôi dưỡng niềm yêu thích, biến môn Ngữ văn vốn khô khan trở thành một lăng kính thú vị để khám phá thế giới.

Thảo Luận Cùng Chuyên Gia Và Cộng Đồng Học Sinh Ngữ văn

Quá trình tự học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khoảnh khắc bế tắc khi bạn đọc kỹ lời giải bài Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1 mà vẫn chưa thực sự "sáng tỏ" một bước lập luận nào đó. Đừng lo lắng! Tính năng bình luận (Comment) phía dưới bài viết được thiết kế chính là để phục vụ cho nhu cầu hỏi đáp (Q&A) này. Hãy mạnh dạn đặt câu hỏi, chỉ rõ chỗ bạn chưa hiểu, đội ngũ cộng tác viên chuyên môn môn Ngữ văn lớp 4 của website sẽ nhanh chóng vào giải đáp và gỡ rối cho bạn. Đồng thời, nếu bạn có một cách giải khác (Alternative Solution) ngắn gọn hơn, sáng tạo hơn cách giải mà chúng tôi cung cấp, hãy tự hào chia sẻ nó lên phần bình luận. Việc cùng nhau thảo luận, tranh biện một vấn đề học thuật không chỉ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ mà còn là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần hiếu học của thế hệ trẻ Việt Nam.